Friday, 6 February 2015

Dòng kệ



Pháp Danh và Người Phật Tử

http://www.tangthuphathoc.net/nghiencuuph/phapdanhvanguoipt.htm


Trích:

Theo truyền thống Phật Giáo Việt Nam, mỗi khi một tín đồ phát tâm quy y Tam Bảo để chính thức trở thành đệ tử của Đức Phật, vị Bổn Sư sẽ cho một tên mới gồm có hai chữ, gọi là Pháp danh, sau khi đã thọ giới. Pháp danh của người Phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử … ở phía trước mà thôi. Ngoài ra, tín đồ Phật giáo cũng được đặt Pháp danh sau khi qua đời để sử dụng trong lúc cử hành tang lễ, nếu khi còn tại thế chưa quy y.

Pháp danh gồm hai chữ : -Chữ đầu: chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái, theo chữ trong bài Kệ của Vị Tổ môn phái đó. –Chữ thứ hai: do vị Bổn sư tự chọn, dựa theo ý nghĩa tên tục (thế danh) của người đệ tử, để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay đẹp và có tính khuyến tu.

Ví dụ: đệ tử tên Mỹ. quy y với Thầy có pháp danh chữ trước là TÂM, thì chữ trước của đệ tử sẽ là chữ NGUYÊN, chữ thứ hai Thầy chọn là MÃN, tức là NGUYÊN MÃN. Lý do: chữ Nguyên theo thứ tự trong bài kệ của Ngài Tổ Liễu Quán nằm sau chữ Tâm; chọn chữ Mãn là hợp theo ý của tên Mỹ để tạo thành một chữ kép có nghĩa tu hành được tốt đẹp ( Mỹ Mãn).

Đôi khi, tên người đệ tử đã mang sẵn chữ có ý nghĩa đạo và lại phù hợp với chữ trong bài Kệ, thì Vị Bổn Sư giữ nguyên mà không cần thay đổi, hoặc giả tên không thể tìm được chữ ghép thì có thể lấy chữ trong tên của các vị La Hán, Bồ Tát v.v… để tạo thành Pháp danh.

Phật Giáo Việt Nam hiện nay đều xuất xứ từ Thiền Tông và đa số thuộc dòng Tào Động (ở miền Bắc) và, Lâm Tế (ở miền Nam). Các Long Vị của các Ngài Tổ thấy ghi là Lâm Tế, nhưng thực tế Pháp tu lại kiêm cả Tịnh Độ Tông và Mật Tông, ví dụ như, ở Huế hiện tại ít nhất cũng đang truyền thừa theo ba bài Kệ của từng vị Tổ Môn Phái xuất Kệ, các Vị này đều thuộc dòng Lâm Tế.

NHỮNG BÀI KỆ ĐƯỢC DÙNG:

• Môn phái Hải Đức (Huế) và môn phái Thập Tháp Di Đà (Bình Định) dùng bài Kệ của Ngài Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy:

Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh Siêu Minh Thật Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không
Như Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ Châu Lợi Ích Đồng
Tín Hương Sanh Phước Huệ
Tương Kế Chấn Từ Phong.
( Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở khoảng chữ CHƠN)

• Môn phái Ngài Liễu Quán dung bài Kệ sau:


Thật Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Giới ĐịnhPhước Huệ
Thể Dung Viên Thông
Vĩnh Siêu Trí Quả
Mật Khế Thành Công
Truyền Trì Diệu Lý
Diễn Xướng Chánh Tông
Hạnh Giải Tương Ưng
Đạt Ngộ Chơn Không.
(Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở chữ TRỪNG)
Hai dòng nói trên phát triển rất mạnh ở Miền Trung và Miền Nam.

• Môn phái Chùa Quốc Ân (Huế) do Tổ Nguyên Thiều lập dùng bài Kệ của Ngài Đạo Mân đời thứ 31:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
(Quý Thầy cao nhất trong môn phái này đang ở chữ LỆ)

• Môn phái Chùa Chúc Thánh thuộc Ngài Minh Hải Pháp Bảo (Quảng Nam Đà Nẵng) biệt xuất bài Kệ:


Minh Thật Pháp Toàn Chương
Ân Chơn Như Thị Đồng
Chuc Thánh Thọ Thiên Cửu
Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Đắc Chánh Luật Vi Tuyên
Tổ Đạo Hạnh Giải Thông
Giác Hoa Bồ Đề Thọ
Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.

• Ngài Trí Thắng Bích Dung đời thứ 41 biệt xuất bài Kệ:

Trí Huệ Thanh Tịnh
Đạo Đức Viên Minh
Chơn Như Tánh Hải
Tịch Chiếu Phổ Thông
Tâm Nguyên Quảng Tục
Bổn Giac Xương Long
Năng Nhơn Thánh Quả
Thường Diễn Khoan Hoằng
Duy Truyền Pháp Ấn
Chánh Ngộ Hội Dung
Không Trì Giời Hạnh
Vĩnh Kế Tổ Tông.

• Ngài Minh Hành Tại Toại ở Miền Bắc biệt xuất bài Kệ:

Minh Chơn Như Bảo Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chơn Thường.

• Ngài Tri Giáo Nhất Cú Tông Tào Động cũng biệt xuất bài Kệ:

Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh
Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm
Mật Hạnh Nhân Đức Xương Lương Huệ
Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường.

Ba bài Kệ sau cùng này người viết chưa đủ duyên để được gặp Quý Thầy thuộc các Môn Phái đó nên không biết những chi tiết khác.
Ngoài ra, gần đây về phía Nữ Phật Tử cũng có một số được đặt Pháp Danh mang chữ DIỆU, MINH như Phật Giáo Nhật Bản, Trung Quốc v.v….

Trên đây là những điều mà cá nhân người viết đã may mắn được sự chỉ dẫn và giải thích của Quý Thầy trong thời gian học hỏi và phụ giúp về nghi lễ. Ngoài ra, trong Nghi Lễ, Pháp danh chỉ được dùng trong Sớ để tác bạch lên Chư phật và Bồ tát mà thôi, còn như các việc khác, đối với các bậc xuất gia thì có Pháp Tự, Pháp Hiệu; đối với hàng tại gia thì có Tự, Hiệu … Do đó, mà Phật Tử chúng ta rất khó biết được Pháp Danh của Quý Thầy, Quý Sư Cô.

Với sự hiểu biết rất thô thiển qua sự chỉ bày của Quý Thầy và kinh nghiệm bản thân, chắc chắn còn nhiều Môn Phái khác mà chúng tôi không biết. Chúng tôi chỉ mong người Phật tử chúng ta biết được phần nào nguồn gốc, ý nghĩa và sự liên hệ giữa Pháp Danh với chính bản thân mình trong việc tu học.

Ngưỡng mong các bậc Tôn Túc, Thiện Tri Thức chỉ dạy thêm.

Thursday, 5 February 2015

Em xay tuong Phat




Thương người dựng tượng Phật

Ai đi qua núi Sơn trà
Quan Âm tượng trắng xa nhìn biển khơi
Nghe em lượng lớn vô cùng
Góp công xây dựng tượng đài sẽ xây!
Công trình sẽ mãi với đời,
Do người con gái miền Trung thuở nào!
Thương em chí lớn tài cao,
Góp công nghệ thuật, cúng dường tâm linh!

ĐỗNguyễn
..nghe tin em cúng dường xây tượng Phật.

Như lý tác ý

Hello Mit,

Anh kể em nghe, 1 lần ông GT ba hoa về chữ Như lí tác ý trước mặt một ông NT chuyên về VDP. Họ cải nhau lớn chuyện...
Do đó, đề tài này có vẻ đơn giản, tuy vậy anh thấy cần biết rỏ hơn.. Thày NH giảng rõ ràng..



Như lý tác ý
Thích Nhất Hạnh 

Yoniso manasikara

Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm. Chánh là thẳng, tà là nghiêng. Chánh niệm tức là đặt những điều ngay, thẳng và điều tốt đẹp vào trong tâm nhớ nghĩ của mình.

Trong 51 tâm hành có một tâm hành tên là tác ý (manaskara, Pali là manasikara). Tác ý tức là khởi tâm để ý tới một đối tượng nào đó. Trước đó chưa chú ý tới, bây giờ ta chú ý tới, gọi là tác ý. Tác ý là một trong năm tâm sở biến hành. Và tác ý mở đầu cho một niệm. Như khi ta xem một truyện phim hay nghe một bài hát thì hình ảnh hay câu hát khiến cho ta tác ý. Nếu ta biết tu tập thì ta sẽ tác ý tới một điều chính, và ta duy trì điều chính đó lại. Khi nghe chuyện hay nhìn hình ảnh ta cũng có thể tác ý tới một điều bất chánh. Khi ta tác ý tới một điều chánh đáng, phù hợp với tinh thần bốn sự thật, với kiến thức về bốn loại thực phẩm, với giáo lý bát chánh đạo thì đó gọi là như lý tác ý hoặc là như pháp tác ý (yoniso manaskara). Ngược lại là bất như lý tác ý (ayoniso manaskara). Chữ như lý được dịch từ chữ yoniso. Yoni có nghĩa là tử cung, cái cung của đứa con, mọi người đều sinh ra từ đó. Và vì thế yoni ở đây có nghĩa là cội nguồn. Khi đưa về đúng cội nguồn, không lạc hướng, thì gọi là yoniso. Đưa đi lạc khỏi cội nguồn thì gọi là ayoniso, dịch là bất như lý hay là phi như lý tác ý. Thí dụ ở Làng Mai khi nghe tiếng chuông đồng hồ, mọi người trở về với chánh niệm, thở và mỉm cười. Ta lấy chánh niệm để soi sáng và như thế ta thực tập như lý tác ý. Khi nghe một tiếng hát đưa lòng ta tới những thương nhớ vẩn vơ, quên rằng ta đang ở đây để thực tập chánh niệm cùng với tăng thân, thì đó là phi như lý tác ý. Cho nên trong đời sống tu học, chúng ta phải tổ chức như thế nào để có thể thực tập được như lý tác ý trong mỗi giây phút. Khi bước vào nhà bếp, thấy một vị thiền sinh đang xắt cà rốt, tôi hay hỏi: ‘‘Anh đang làm gì đó?’’ Câu hỏi giống như một tiếng chuông để giúp người đó như lý tác ý. Trong một tăng thân tu tập với nhau chúng ta phải giúp nhau gióng tiếng chuông như lý tác ý cho nhau. Cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách nhìn, cách làm việc của ta đều có thể có tác dụng giúp người khác thực tập như lý tác ý. Trong tăng thân chúng ta có những người làm được như vậy. Khi nhìn thấy họ ta tự nhiên trở về được với chánh niệm. Sự có mặt của họ có tác dụng như tiếng chuông tỉnh thức. Xây dựng tăng thân cũng là thực tập để cho mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cái động tác của ta là một tiếng chuông cho chính ta và cho người khác. Trong thiền viện, từ cách trình bày bàn thờ, cắm một bình hoa, một góc chùa cong, một tiếng chuông thỉnh đều chủ ý giúp chúng ta thực tập như lý tác ý. Cái gì trong thiền viện cũng phải được sắp đặt để nhắc nhở chúng ta phải trở về như lý tác ý. Như lý tác ý là giây phút khai sanh của chánh niệm. Ngược lại, nếu chúng ta sống trong một môi trường mà mọi thứ đều khiến chúng ta quên lãng, ta sẽ bị kéo theo bởi những phi như lý tác ý. Ngồi trong một quán rượu, tất cả những điều chúng ta nghe, thấy và cảm bằng sáu giác quan đều có tác dụng đưa chúng ta đi lạc vào phi như lý tác ý.

Khi chúng ta nghĩ tới những danh, lợi, tài, sắc, nhớ tới thuốc hút ‘‘nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên’’, thì niệm đó là tà niệm. Nhớ một người nào đến nỗi không làm ăn gì được, không tu học gì nổi, đó là tà niệm. Có khi chúng ta quán tưởng một dòng nước trong hay là một bầu trời xanh để cho tâm hồn thư thái, để tự nuôi dưỡng trước khi trở về đối diện những khó khăn hiện tại, việc này có thể là như lý vì chúng ta biết mình đang làm gì. Nhưng thường thì chúng ta không biết là mình đang mơ mộng và đang trốn tránh. Mà người tu học không trốn tránh thực tại. Tu học tức là đem chánh niệm chiếu vào đối tượng khổ đau, để tìm ra những nguyên do đã đem tới đau khổ. Mà thấy được khổ đế và tập đế rồi, tự khắc ta thấy được đạo đế. Trốn tránh thì suốt đời ta không giải quyết vấn đề đau khổ của ta và của người.

Chánh niệm là một loại năng lượng để thắp sáng tâm ý. Chúng ta biết trong chiều sâu tàng thức của chúng ta có hạt giống chánh niệm. Không tu tập thì hạt giống bị vùi lấp qua nhiều lớp thất niệm, khổ đau phiền não. Tu tập là chạm vào hạt giống chánh niệm để nó nở thành hoa. Ta hãy tìm cách giữ nó lại trong phòng khách của tâm hành, vì đó là một người khách quý. Người khách đó là Bụt, vì chánh niệm chính là Bụt tương lai. Nuôi dưỡng chánh niệm là làm cho Bụt ở trong ta càng ngày càng sáng tỏ. Người tu tập giỏi có thể nuôi dưỡng ngọn đèn chánh niệm thường xuyên. Ngọn đèn đó sẽ đem chiếu sáng bốn lãnh vực, đối tượng của thiền quán.

Lãnh vực thứ nhất là thân. Thân, tức là uẩn đầu tiên trong ngũ uẩn, gọi là sắc uẩn. Có một kinh chuyên trình bày sự thực tập chánh niệm về thân, gọi là kinh Thân Hành Niệm. Kinh này có trong Trung Bộ (Majjima Nikaya), và cũng có trong bộ Trung A Hàm. Chánh niệm cũng soi sáng lãnh vực thứ hai gọi là lãnh vực cảm thọ. Thọ là những cảm giác của mình, những cảm giác vui, buồn. Những cảm thọ dễ chịu, khó chịu, hoặc không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi là cảm thọ trung tính. Chánh niệm soi sáng lãnh vực thứ ba là tâm ý hay tâm hành. Bất cứ một tâm hành nào phát hiện là chánh niệm nhận diện được. Thấy tầm thì biết là tầm, thấy từ thì biết là từ, thấy tham thì biết là tham, thấy sân thì biết là sân, thấy mạn thì biết là mạn. Chánh niệm nhận diện tất cả 51 thứ tâm hành mỗi khi chúng phát hiện. Sau cùng chánh niệm soi sáng đối tượng của tâm hành, tức là các pháp. Pháp ở đây là tất cả mọi hiện tượng tâm lý cũng như vật lý, và sinh lý. Trước hết pháp là đối tượng của tưởng, tức là tri giác. Ở đây các pháp là đối tượng của tâm hành. Chúng ta soi sáng vừa chủ thể vừa đối tượng của tâm hành.

Chúng ta thường nghĩ nhầm năm uẩn là của một người này hay người kia. Phải nhớ năm uẩn không phải là một cái gì biệt lập, năm uẩn gồm cả chủ thể lẫn đối tượng. Mà đối tượng của năm uẩn bao gồm cả vũ trụ.

Người tu học dùng chánh niệm soi chiếu bốn lãnh vực thân, thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý. Sự soi chiếu này đưa tới tuệ giác, có công năng tháo gỡ và giải thoát cho bản thân người tu học.
--
http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/kinh-gi-ng/39-trai-tim-ca-bt/220-ttcb-09-chanh-nim-va-51-tam-hanh?showall=&start=4

Wednesday, 4 February 2015

Bạn Quế-Thanh vẫn còn đó!

Thanh vẫn bên ta

Quế-Thanh người bạn dễ thương,
Ngày xưa kỷ niệm thân thương thiệt nhiều

Lần nao gặp dưới Muenchen,
Bây giờ lại gặp sau bao tháng ngày!

Bên Thanh còn có bạn bè,
Nhân Công Phước Hải Thắng Chiêu.. quây quần!
..
Gặp nhau bịn rịn chia tay,
Mong Thanh cùng với mọi người an vui!


Thế gian còn mất sự thường!
Riêng anh vẫn nghĩ bạn hiền chẳng xa!

ĐỗNguyễn


Tuesday, 3 February 2015

Bai Kinh Hanh phuc

V. Kinh Ðiềm Lành (Mangala Sutta)

Mangala Sutta: Blessings
translated from the Pali by
Narada Thera

Thus have I heard.[1] On one occasion the Exalted One was dwelling at Anathapindika's monastery, in Jeta's Grove,[2] near Savatthi.[3] Now when the night was far spent, a certain deity whose surpassing splendor illuminated the entire Jeta Grove, came to the presence of the Exalted One and, drawing near, respectfully saluted him and stood at one side. Standing thus, he addressed the Exalted One in verse:
"Many deities and men, yearning after good, have pondered on blessings.[4] Pray, tell me the greatest blessing!"
[The Buddha:]
"Not to associate with the foolish,[5] but to associate with the wise; and to honor those who are worthy of honor — this is the greatest blessing.
To reside in a suitable locality,[6] to have done meritorious actions in the past and to set oneself in the right course[7] — this is the greatest blessing.
To have much learning, to be skillful in handicraft,[8] well-trained in discipline,[9] and to be of good speech[10] — this is the greatest blessing.
To support mother and father, to cherish wife and children, and to be engaged in peaceful occupation — this is the greatest blessing.
To be generous in giving, to be righteous in conduct,[11] to help one's relatives, and to be blameless in action — this is the greatest blessing.
To loathe more evil and abstain from it, to refrain from intoxicants,[12] and to be steadfast in virtue — this is the greatest blessing.
To be respectful,[13] humble, contented and grateful; and to listen to the Dhamma on due occasions[14] — this is the greatest blessing.
To be patient and obedient, to associate with monks and to have religious discussions on due occasions — this is the greatest blessing.
Self-restraint,[15] a holy and chaste life, the perception of the Noble Truths and the realisation of Nibbana — this is the greatest blessing.
A mind unruffled by the vagaries of fortune,[16] from sorrow freed, from defilements cleansed, from fear liberated[17] — this is the greatest blessing.
Those who thus abide, ever remain invincible, in happiness established. These are the greatest blessings."[18]

Notes

(Derived mainly from the Commentaries.)
1.
This Sutta appears in the Sutta-Nipata (v.258ff) and in the Khuddakapatha. See Maha-mangala Jataka (No. 453). For a detailed explanation see Life's Highest Blessing by Dr. R.L. Soni, WHEEL No. 254/256.
2.
Anathapindika, lit., 'He who gives alms to the helpless'; his former name was Sudatta. After his conversion to Buddhism, he bought the grove belonging to the Prince Jeta, and established a monastery which was subsequently named Jetavana. It was in this monastery that the Buddha observed most of his vassana periods (rainy seasons — the three months' retreat beginning with the full-moon of July). Many are the discourses delivered and many are the incidents connected with the Buddha's life that happened at Jetavana. It was here that the Buddha ministered to the sick monk neglected by his companions, advising them: "Whoever, monks, would wait upon me, let him wait upon the sick." It was here that the Buddha so poignantly taught the law of impermanence, by asking the bereaved young woman Kisagotami who brought her dead child, to fetch a grain of mustard seed from a home where there has been no bereavement.
3.
Identified with modern Sahet-Mahet, near Balrampur.
4.
According to the Commentary, mangala means that which is conducive to happiness and prosperity.
5.
This refers not only to the stupid and uncultured, but also includes the wicked in thought, word and deed.
6.
Any place where monks, nuns and lay devotees continually reside; where pious folk are bent on the performance of the ten meritorious deeds, and where the Dhamma exists as a living principle.
7.
Making the right resolve for abandoning immorality for morality, faithlessness for faith and selfishness for generosity.
8.
The harmless crafts of the householder by which no living being is injured and nothing unrighteous done; and the crafts of the homeless monk, such as stitching the robes, etc.
9.
Vinaya means discipline in thought, word and deed. The commentary speaks of two kinds of discipline — that of the householder, which is abstinence from the ten immoral actions (akusala-kammapatha), and that of the monk which is the non-transgression of the offences enumerated in the Patimokkha (the code of the monk's rules) or the 'fourfold moral purity' (catu-parisuddhi-sila).
10.
Good speech that is opportune, truthful, friendly, profitable and spoken with thoughts of loving-kindness.
11.
Righteous conduct is the observance of the ten good actions (kusala-kammapatha) in thought, word and deed: freeing the mind of greed, ill-will and wrong views; avoiding speech that is untruthful, slanderous, abusive and frivolous; and the non- committal acts of killing, stealing and sexual misconduct.
12.
Total abstinence from alcohol and intoxicating drugs.
13.
Towards monks (and of course also to the clergy of other religions), teachers, parents, elders, superiors, etc.
14.
For instance, when one is harassed by evil thoughts.
15.
Self-restraint (tapo): the suppression of lusts and hates by the control of the senses; and the suppression of indolence by the rousing of energy.
16.
Loka-dhamma, i.e., conditions which are necessarily connected with life in this world; there are primarily eight of them: gain and loss, honor and dishonor, praise and blame, pain and joy.
17.
Each of these three expressions refers to the mind of the arahant: asoka: sorrowless; viraja: stainless, i.e., free from lust, hatred and ignorance; khema: security from the bonds of sense desires (kama), repeated existence (bhava), false views (ditthi) and ignorance (avijja).
18.
The above-mentioned thirty-eight blessings.
 
--
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/khp/khp.5.nara.html
Thày Thích Minh Châu dịch:
 
 
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
Thiên tử:
1. Nhiều Thiên tử và người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
(Ðức Phật giảng:)
2. Không thân cận kẻ ngu, (Asevanā ca bālānaṃ, không cọng tác với kẻ ngu)
Nhưng gần gũi bậc Trí,
Ðảnh lễ người đáng lễ,
Là điềm lành tối thượng.
3. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là điềm lành tối thượng.
4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng.
5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi nấng vợ và con.
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng.
6. Bố thí, hành, đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng.
7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong Pháp, không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng.
8. Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Ðúng thời, nghe Chánh Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
9. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế.
Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
Là điềm lành tối thượng.
11. Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn,
Là điềm lành tối thượng.
12. Làm sự việc như vầy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5


V. Das Heil - Mangala-Suttam

[Dieses Suttam findet sich auch im Sutta-Nipāto II, 4. Mangalam bedeutet feierliche Zeremonie, Gottesdienst, religiöser Dienst; Vorzeichen, Omen; Segen, Glück, Heil (vergl. den im nördlichen Buddhismus vielfach begegnenden Gruss: Sarvamangalam ! Heil allerseits!)]

1. So habe ich gehört: Einstmals weilte der Erhabene zu Sāvatthi, im Siegerhaine, im Klostergarten des Armenspeisers. Als nun die Nacht vorgerückt war, begab sich eine gewisse schöngestaltige Gottheit, indem sie den ganzen Siegerhain erhellte, dorthin, wo der Erhabene weilte. Als sie sich dorthin begeben hatte, begrüßte sie den Erhabenen ehrfurchtsvoll und trat seitwärts. Seitwärts stehend redete diese Gottheit den Erhabenen mit dem Verse an:
2.
Viele Götter und Menschen haben,
nach Glück sich sehnend,
an Heil gedacht.
Nenne du das höchste Heil.
[Der Erhabene:]
3.
Den Toren nicht ergeben sein,
den Weisen ergeben sein,
die Verehrungswürdigen verehren:
dies ist das höchste Heil.
4.
Das Wohnen in einem guten Lande,
Verdienst aus früherem Sein,
rechtes Streben des Selbstes:
dies ist das höchste Heil.
5.
Viel Wahrhaftigkeit und gutes Wissen,
ganz durchgeführte Selbstdisziplin
und wohlgesprochene Worte:
dies ist das höchste Heil.
6.
Vater und Mutter unterstützen,
für Weib und Kind sorgen,
eine friedliche Beschäftigung:
dies ist das höchste Heil.
7.
Wohltätigkeit und religiöser Wandel,
Zuneigung zu den Verwandten
und untadelhafte Werke:
dies ist das höchste Heil.
8.
Enthaltsamkeit und Abstehen vom Bösen,
Meidung berauschender Getränke
und Unermüdlichkeit in religiösen Pflichten:
dies ist das höchste Heil.
9.
Ehrerbietung und Demut,
Zufriedenheit und Dankbarkeit,
das Hören des Gesetzes zur richtigen Zeit:
dies ist das höchste Heil.
10.
Geduld und Milde,
der Verkehr mit Asketen
und Unterredung über das Gesetz zur richtigen Zeit:
dies ist das höchste Heil.
11.
Askese (tapo) und keuscher Wandel,
die Erkenntnis der edlen Wahrheiten
und die Verwirklichung des Nirvana:
dies ist das höchste Heil.
12.
Das Gemüt eines von den Dingen der Welt berührten Menschen,
welches nicht erzittert und kummerlos,
leidenschaftslos und frei von Furcht ist:
dies ist das höchste Heil.
13.
Die solches getan haben,
sind überall unüberwunden;
überall wandeln sie glücklich:
ja, ihrer ist das höchste Heil."
--
http://palikanon.com/khuddaka/khuddaka.htm#V

Gambas


 Gambas al Pil Pil 


Mit thân,

Anh thích ăn món này. Hôm nay anh làm món này, ăn cũng ngon. Tiếc là không được hỏi em. Đọc trên net, viết rằng..
Món này, họ chỉ nên ướp trước với tỏi, dầu oliven, muối.. Khi chiên, để chảo nóng, chỉ chiên chừng 2 phút là xong..(Tôm mua đã lột vỏ)
Em nghĩ sao?

ĐN


You will need:

About 40 – 55 Prawns (not pre-cooked and frozen)
1 tablespoon Chilli Garlic Prawns Mix
A good earthenware dish (in Spain this tapa is both cooked and served in the dish)

Method:

Sprinkle the Chilli Garlic Prawns Mix in a dish with the olive oil. You need enough oil to cover all ingredients once in the dish.

Wash and peel the prawns and place in the dish.

Cook on the hob or barbecue for roughly 10 – 15 minutes or until the prawns are thoroughly cooked.

Serve immediately with a basket of fresh bread.


Monday, 2 February 2015

music: unforgiven



Unforgiven, một bài nhạc anh thích..

New blood joins this earth
And quickly he's subdued
Through constant pained disgrace
The young boy learns their rules
With time the child draws in
This whipping boy done wrong
Deprived of all his thoughts
The young man struggles on and on he's known
A vow unto his own
That never from this day
His will they'll take away-eay
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
They dedicate their lives
To RUNNING all of his
He tries to please THEM all
This bitter man he is
Throughout his life the same
He's battled constantly
This fight he cannot win
A tired man they see no longer cares
The old man then prepares
To die regretfully
That old man here is me
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
whoa, whoa
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN
You labeled me
I'll label you
So I dub thee UNFORGIVEN
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN
You labeled me
I'll label you
So I dub thee UNFORGIVEN
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN

--
Neues Blut schließt sich dieser Erde an
Und schnell ist er unterworfen.
Durch ständige schmerzvolle Schmach
Lernt der junge Mann ihre Regeln.
Mit der Zeit fährt das Kind in
diesen Prügelknaben ein, der etwas falsch gemacht hat.
All seiner Gedanken beraubt
Kämpft der junge Mann weiter und weiter.
Er hat ein Versprechen an sich selbst gekannt,
Dass sie ihm von diesem Tag an niemals mehr seinen Willen nehmen werden.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Sie widmen ihr Leben
Um sein ganzes Leben zu führen.
Er versucht sie alle zufriedenzustellen,
Dieser verbitterte Mann, der er ist.
Sein ganzes Leben lang dasselbe,
Er hat stetig gekämpft.
Diesen Kampf kann er nicht gewinnen.
Sie sehen, dass einem müden Mann alles egal ist.
Der alte Mann bereitet sich darauf vor
Mit Bedauern zu sterben...
Dieser alte Mann hier bin ich.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
...
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Du hast mich abgestempelt,
Ich werde dich abstempeln,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Ihr habt mich abgestempelt,
Ich werde euch abstempeln,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen

--


http://www.songtexte.com/uebersetzung/metallica/the-unforgiven-deutsch-73d6b20d.html

Sunday, 1 February 2015

Conze

Em, Online và Conze

Online tuyệt vời
Nối liền thế giới

Online..chờ đợi
Nhiều khi tiếc ghê
Khi em login chổ hẹn xưa
Anh lại lỡ..vì không login ..

Anh thích đọc sách
Niềm vui tối thượng

Tuần nay phát hiện
Học giả Conze (1)


Tuyệt vời!

ĐỗNguyễn
.. vẫn chờ em ghé blog
--
1.

Sách đang đọc:
TINH HOA Và SỰ PHÁT TRIỂN của ĐẠO PHẬT
Buddhism- Its Essence and Development
Tác giả Edward Conze - Nguyễn Hữu Hiệu Dịch

Saturday, 31 January 2015

Thanh



Hình anh Du trong hôm nay, với cây đàn

Gặp nhau cùng tiễn bạn!

Mới đi gặp các bạn về,
Đơn sơ hình bóng Thanh
Anh thắp một nén hương
Tưởng nhớ bạn hiền Thanh!

Nhân Công Du Hải Thắng
Và bao nhiêu bạn bè
Anh được gặp chiều nay
Hàn huyên tưởng nhớ Thanh

Chia tay với mọi người,
Ngoài trời mưa tuyết bay
Thấm thoát tiệc cũng xong
Đường về nhà xa xa..

ĐỗNguyễn

Friday, 30 January 2015

1000

thơ


Thức dậy ngóng dáng ai,
Em còn đang ngủ
Các room cũng ít người..

Đường ra tiệm vui vui,
Mưa phùn hòa tuyết rơi
Xe bus bóng màu vàng

Có cây đèn màu đen
Dáng kiểu xưa văn phòng
Máy xấy 1000 watt

Phòng sách vừa đóng cửa
Thôi mai ráng đến kịp
Xem những sách mới về

Đang nấu càphe chợt nhớ
Cách làm của em Quý
Đo nước không dư thiếu

Chợt nhớ đến bạn Thanh
Lễ tưởng niệm ngày mai
Bâng khuâng tiễn bạn xưa

Mưa rơi còn rơi mãi
Tình online mong manh
Vui buồn theo đường net..

ĐỗNguyễn
đang chờ dáng em ghé blog lần thứ 1000..





Giới thiệu Đạo Phật: Lời dạy, Lịch sử và Thực hành

Gioi thieu:

Mit thuong,

Anh vua duoc gioi thieu 1 cuon sach ve dao Phat/ Tac gia, Peter Harvey là giáo sư Phật học tại Đại học Sunderland, Anh quốc. Ông cũng là người sáng lập Hiệp hội Nghiên cứu Phật giáo, Anh quốc, và Hội Thiền định Samatha Trust.

Gioi thieu voi em noi dung so luoc..

Hien nay, anh dang doc cuon Luoc su PG cua E. Conze; xong se doc qua cuon nay..
DN
--
1) Peter Harvey. An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (2013)
(Giới thiệu Đạo Phật: Lời dạy, Lịch sử và Thực hành)


Contents

List of illustrations page xi
List of tables xiii
Preface to the Second Edition, and Acknowledgements xv
A Note on Language and Pronunciation xviii
List of abbreviations xxi

Introduction 1

1 The Buddha and his Indian Context 8

Background to the life of the Buddha 8
The life of the Buddha 14
The nature and role of the Buddha 27
The nature and style of the Buddha’s teaching 29

2 Early Buddhist Teachings: Rebirth and Karma 32

Rebirth and cosmology 32
Karma 39
Belief in rebirth and karma 46

3 Early Buddhist Teachings: The Four True Realities for the Spiritually Ennobled 50

The First True Reality for the Spiritually Ennobled: the painful 52
The Second True Reality for the Spiritually Ennobled: the origin of the
painful 62
The Third True Reality for the Spiritually Ennobled: the cessation of the
painful – Nirvāna 73
The Fourth True Reality for the Spiritually Ennobled: the Path to the
cessation of the painful 81

4 Early Developments in Buddhism 88

The early San˙gha 88
The Abhidhamma 90
The early schools and their doctrines 92
The three aspirations, Jātakas and Avadānas 99
Emperor Asoka and Buddhism 100
Devotion and symbolism in early Buddhism 103
The rise of the Mahāyāna 108

5 Mahāyāna Philosophies: The Varieties of Emptiness 114

The Perfection of Wisdom literature and the Mādhyamika school 114
The Yogācāra school 127
Tathāgata-garbha thought 138
The Avatam
˙
saka Sūtra and the Huayan School 145
A comparative overview of Mahāyāna philosophies and their ideas of
‘emptiness’ 149

6 Mahāyāna Holy Beings, and Tantric Buddhism 151

The path of the Bodhisattva 151
Mahāyāna Buddhology: expansion with regard to the number, location,
life-span and nature of Buddhas 161
The Mahāyāna pantheon 172
The tantric perspective 180

7 The Later History and Spread of Buddhism 194

India and Central Asia 194
Lan˙kā 196
South-east Asia excluding Vietnam 199
The lands of Northern Buddhism 202
China 210
Vietnam and Korea 224
Japan 226
Overview and comparative reflections 235

8 Buddhist Practice: Devotion 237

Focuses and locations of devotional acts 238
Bowing, offerings and chanting 240
The refuges 244
Attitudes to images 247
Protective chanting 249
Some Mahāyāna focuses of devotion 250
Pilgrimage 258
Festivals 259

9 Buddhist Practice: Ethics 264

The role and basis of ethics in Buddhism 264
Giving 267
Keeping the precepts 268
Lovingkindness and compassion 278
Care for the dying and the dead 281
The ethics of social relationships 282

10 Buddhist Practice: The San˙gha 287

The role of monasticism 288
The monastic code of discipline 289
Patterns and types of ordination 294
Nuns 298
The economic base of the monastic life 302
Study and meditation 305
Communal life 310
Relations with the laity 314

11 Buddhist Practice: Meditation and Cultivation of
Experience-Based Wisdom 318

The approach to meditation 319
Qualities to be developed by meditation 321
Approaches beginning with samatha in Southern Buddhism 325
The contributions of samatha and vipassanā meditation in Southern
Buddhism 332
Approaches beginning with vipassanā in Southern Buddhism 334
The classical path of śamatha and vipaśyanā in Northern and Eastern
Buddhism 340
Pure Land visualizations 344
Tantric visualizations 347
Tantric techniques of spontaneity 357
Zen meditation 361

12 The Modern History of Buddhism in Asia 376

Southern Buddhism 377
Eastern Buddhism 402
Northern Buddhism 413

13 Buddhism Beyond Asia 419

The early influence of Buddhism through literature, philosophy and
psychology 419
The Theosophical Society: a bridge between East and West 420
Scholarship 421
The internet, films and music 424
Immigration 424
Categories of Buddhists, and their characteristics and numbers 427
Buddhist missions and organizations 431

Appendix I: Canons of Scriptures 459
Appendix II: Web Resources 463
Bibliography 468
Index 491

Nhớ Quế Thanh

đ. Ngộ ơi,

Khuya nay, check email, biết là Công cùng bạn bè đã đến dự lễ hỏa táng anh Thanh ở Hòa lan hôm nay.. Tro sẽ được vợ anh T. đem về VN.
Ngày mai thứ bảy, ở đây bạn bè cũng tưởng niệm Thanh..
Anh sẽ đến..

ĐỗNguyễn
..nhớ Bạn Thanh.. 

Gởi em bài thơ của anh Công..


Bài thơ của Công viết về Thanh

Vẫn biết Thu về lá phải rơi
Đâu có chi tồn tại mãi trên đời
Mà sao tiễn bạn lòng nao núng
Trống vắng mênh mông một cỏi trời


29.Januar 2015

Thursday, 29 January 2015

Conze

E. Conze và em

Đêm qua thức đến trưa,
Buổi chiều ngủ giấc say
Tĩnh dậy bên em đang ngủ

Tối anh đọc sử Phật giáo
Vô cùng thích!

Bổng nhiên phát hiện
Kho tàng về tác gia tiếng anh!
Mà xưa nay không chú ý đầy đủ!

Rahula, Bodhi
Schuman,
Và bây giờ thêm E. Conze
..

Tuyệt vời!

Nhìn vào blog
Thấy dáng em..
Đã ghé thăm..
Anh mừng..

ĐỗNguyễn
--
http://vi.wikipedia.org/wiki/Edward_Conze

Trứ tác nổi tiếng nhất của E. Conze:
  1. Buddhism. Its Essence and Development (bản dịch Việt ngữ: Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật), Oxford 1951;
  2. Buddhist Meditation, London 1956;
  3. Buddhist Thought in India, London 1962. Bài luận tiêu chuẩn về Đại thừa Ấn Độ;
  4. A Short History of Buddhism, xuất bản 1980.

Wednesday, 28 January 2015

Cô bé trong chum

Ở trong chum

Em trèo vô chum
Tìm tôm khô
Để ăn

Rồi bị kẹt trong đó

Mẹ về
Mới bồng em ra..

Hihi

Khen em
Tuổi thơ
Đã can đảm!

Thương sao!
Cô bé
Đĩnh ngộ!

ĐỗNguyễn

Tháo vác

Thay bóng đèn

Mấy tháng rồi
Trong căn phòng dưới hầm
Đèn tắt

Hôm nay
Thomas thợ điện
Bắt thang
Thay bóng

Đèn sáng!

Lần tới anh sẽ
Tự làm!

ĐỗNguyễn

Quế Thanh

Quế Thanh, thời còn ở Camping với nhau..


Nhớ anh Quế Thanh

Ngày xưa còn trẻ
Nghĩ học xong sẽ về quê hương

Lâu lắm rồi
Không gặp nhau

Giờ anh nghe
Anh Thanh mới mất bất ngờ!

Tin buồn!

Thế là
Không còn dịp gặp nhau nửa!
Quê hương mãi xa!

An ũi chăng lời Phật:
Ai rồi cũng phải chết!

ĐỗNguyễn
..thân anh Thanh thành tro bụi sẽ về Việt nam..




Tuesday, 27 January 2015

Bồ tát



Bồ tát

Anh gọi em
Bồ tát,
Và anh nhớ
Dấu chân chim
Mang tấm lòng
Nhân ái!

Bồ tát của anh ơi,
Em đã lớn lên
Trong tình thương Quán thế,
Và bây giờ,
Em mang
Niềm vui

Đến với đời

Bồ tát
Em!

ĐỗNguyễn

Monday, 26 January 2015

Đọc sách

Anh đang đọc cuốn
Lược sử PG, của E. Conze
Nhiều chi tiết mới..

Hôm nay thức dậy
Thấy bên em 2 giờ sáng..

Vào trang blog,
Thấy dáng em..

Anh vui vì
Em đã xem
Vài câu thơ anh viết..
Vui lắm!

ĐỗNguyễn

Sunday, 25 January 2015

Niềm vui

Tặng đ.Ngộ

Niềm vui

Tháng chín năm anh vẽ ảnh này,
Khi đó em đang còn ở Huế,
Tuổi hoa đậu khấu mười ba,
Còn mặc áo dài vải đơn sơ đi học..

Bây giờ
Người ta đã lớn..

ĐỗNguyễn
豆蔻梢頭二月初。
Đậu khấu sao đầu nhị nguyệt sơ.(Đỗ Mục)

Saturday, 24 January 2015

Nhớ em trai

Nhớ em trai

Hôm nay xem kệ sách,
Anh thấy tác phẩm này:
Những mẫu chuyện đạo..

Đó là cuốn sách xưa
Do em trai cho mượn
Thời ấy sách hiếm hoi..

Nhìn sách lại nhớ người
Người em xưa ra đi
Lòng tin còn gởi lại!

ĐỗNguyễn
anh nhớ về Q., đứa em trai đã mất..

Chuông reo, vui quá!

Đang ngủ nghe chuông reo

Bao lâu rồi em nhỉ
Không được nghe em gọi
Niềm hạnh phúc vô song!

Trưa thứ bảy mơ màng
Nghe tiếng gọi ngày xưa
Anh tìm về đường cũ

Thấy dáng em vừa đó,
Mới gọi anh vừa xong
Anh gọi em lại thấy không

Cô bé gọi anh xong,
Sao anh goị không bắt
Làm anh vui trông mong..

ĐỗNguyễn

Chatroom

Ve

Net ao VN that mong manh,
Luc thi dut cap, luc ca' an,
Lai them he thong dang bi hack,
Voice room tro lai Chatroom roi!





DoNguyen
thu bay

Tang Mit bai hat Quang nom ta

Anh Tuyet, giong hat Quang Nom

Friday, 23 January 2015

đ. Ngộ



 Dachkonstruktion

Từ sớm đi Nam

Dáng người ra gare sớm,
Chiều tối người ấy mới trỡ về,
Thương đ. Ngộ nhiều ghê!

ĐỗNguyễn
 

Thursday, 22 January 2015

Vẫn thấy bên đời còn có anh..

Vẫn thấy bên đời còn có anh..

đ. Ngộ

Giọng nói em

Nụ cười giòn
Sao thương quá!

Nhất là,
Khi nghe em
Nói chữ đâu ấy

Trong đời của anh
Mùa đông 2015
Rất lạnh giá!
Nhưng
Bắt đầu từ hôm nay
Bổng
Ấm lắm

Vì trong anh
Và bên anh
Có tia nắng ấm
Từ em

Sao anh thèm nghe
Giọng nói em!

ĐỗNguyễn
..cõi đời bao la vẫn ngân dài..

Tứ thiền


Chung quanh đề tài sơ thiền và nhị thiền

ĐỗNguyễn

0. Định là gì

Tiếng pàli "Samàdhi" là định. Ðịnh nghĩa là tập trung tâm ý vào một đề mục hay một đối tượng duy nhất không được phân tán hay xao lãng.

1. Tứ thiền

Về tứ thiền, Kinh Trung bộ 19 (1) viết:


"Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.

Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh."

2. Vai trò quan trọng của thiền tập

Con đường thiền tập được Kinh TBK Saccaka ghi rằng:
"Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ"."(Saccaka, TBK 36)(2)

" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?"

Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ". Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ"."

3. Lạc thọ trong thiền tập

Lạc thọ do thiền mang lại không nguy hiểm:
" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện"." (TBK 36)

4. Thiền mang lại tuệ

Kinh chép: "Không phải người trí thì không thể tu thiền, không tu thiền thì không thể được trí" 

5. Tham dục

Các dục khi cầu khổ
Khi được nhiều sợ-hãi
Khi mất lại lo rầu
Tất cả thời không vui


6. Sân 
Giết sân thì an-lạc
Giết sân thì vô-ưu
Sân là gốc của độc
Sân diệt tất cả thiện
Ðã biết sân nguy-hiểm như thế, phải chóng tu từ-bi, nhẫn-nhục để diệt-trừ nó cho tâm được thanh-tịnh.

7. Ngủ

Khi thiền dễ buồn ngủ, do đó, cần đối trị để vượt qua:

Do ngủ khiến tâm không thấy được

8. Năm triền cái

Trong tác phẩm Toạ thiền chỉ quán (4) viết:


"Có người hỏi: "Những việc ác nhiều như bụi không thể tính hết, tại sao ở đây chỉ dạy bỏ 5 điều mà thôi?" Ðáp: Trong 5 điều nầy gồm cả tam độc và đẳng-phần, 4 thứ nầy làm căn-bản, nhiếp cả tám muôn bốn ngàn trần-lao. Ðó là:

1- Tham muốn thuộc tham độc.
2- Giận hờn thuộc sân độc.
3- Mê ngủ và nghi thuộc si độc
4- Diêu-động và hối hận thuộc đẳng phần.
Chúng hiếp thành 4 phần phiền-não. Trong mỗi phần có 2 muôn một ngàn. Họp 4 phần là 8 muôn 4 ngàn. Thế nên, trừ ngũ-cái là trừ tất cả pháp ác. Người tu nên lấy những việc như thế trừ bỏ ngũ-cái. Ngũ-cái bỏ rồi, ví như người mang nặng được gỡ bỏ, như bệnh được lành, như người đói được đến nước giàu có, như giặc bị bao vây được cứu thoát, yên ổn không lo sợ. Người tu cũng vậy, trừ được ngũ-cái rồi, tâm yên ổn, mát mẻ an vui, như mặt trời, mặt trăng bị 5 việc che tối: khói, bụi, mây, mù, nhật nguyệt thực, nên không thể chiếu sáng. Tâm người bị ngũ-cái cũng như thế."

9. Sơ thiền

Tác phẩm Thanh tịnh đạo toát yếu, Thích phước Sơn (3) viết rất rõ và chi tiết như sau:

" Ðến đây, hành giả hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, có tầm, có tứ, với hỉ lạc do ly dục sinh; từ bỏ 5 pháp, đạt được 5 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính, và Sơ thiền nầy thuộc biên xứ đất.


Hoàn toàn ly dục nghĩa là thoát khỏi mọi dục vọng, vì dục là cái đối nghịch với so thiền. Nếu có dục thì không thể đắc Sơ thiền, cũng như có tối thì không có sáng. Danh từ "dục" bao gồm nhiều thứ; Ðó là dục kể như đối tượng, tức là những sắc pháp dễ ưa thích, và dục kể như cấu uế như vibhanga nói: "Ðam mê là dục, thèm muốn là dục, khát khao là dục".


Ly bất thiện pháp là xa lìa các triền cái khác ngoài dục. Như vậy, ly dục là từ bỏ cái nhân của tham, còn ly bất thiện pháp là từ bỏ cái nhân của si. Ly dục là thanh tịnh thân nghiệp, ly bất thiện pháp là thanh tịnh ý nghiệp. Nói cách khác, ly dục tức là thân viễn ly còn ly bất thiện pháp tức là tâm viễn ly.

Ở đây, cũng nên hiểu thêm về ý nghĩa của dục. Chữ dục thường dùng để dịch các từ chanda, kàma ràga. Chanda rất thông dụng, có nghĩa là hăng say, ham muốn tốt hoặc xấu. Kàma chỉ chung ngũ dục thuộc dục giới, còn theo nghĩa hẹp là dâm dục. Nếu kàma kết hợp với chanda thì thành ra kàmacchanda nghĩa là dục tham. Ràga là ham muốn, thèm khát theo ý xấu.
Ở trên nói đạt được năm pháp tức chỉ cho 5 thiền chi là tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm.


Tầm (vitakka)

 là trạng thái hướng tâm đến một đối tượng; nhiệm vụ nó là đập mạnh vào. Tứ (vicàra) là tư duy được nâng lên cao độ. Ðặc tính của nó là liên tục nhấn mạnh vào đối tượng. Nhiệm vụ của nó là khiến cho những tâm pháp đều tập trung trên đối tượng. Mặc dù tầm và tứ không rời nhau, nhưng tầm có nghĩa là sự xúc chạm đầu tiên của tâm với đối tượng, như đánh lên một tiếng chuông. Còn tứ là buộc tâm vào một chỗ, như rung chuông. Hơn nữa, tầm được ví như bàn tay nắm chặt cái đĩa kim loại bị hoen rỉ, còn tứ như bàn tay chà xát cái đĩa ấy bằng một mảnh dẻ tẩm dầu. Hoặc khi ta vẽ một cái vòng tròn thì cây kim cố định giữa trung tâm ví như tầm, cây kim di động vòng quanh cái tâm điểm đó gọi là tứ. Sơ thiền được xảy đến cùng lúc với tầm tứ nên được gọi là "Câu hữu với tầm tứ".


Hỉ 

là trạng thái tươi tỉnh, mát mẻ. Nó gồm có 5 cấp bậc từ thấp lên cao: tiểu hỉ; hỉ như chớp nhoáng; hỉ như mưa rào; hỉ nâng người lên và hỉ sung mãn. Tiểu hỉ chỉ có thể là dựng lông tóc trong người mà thôi. Hỉ như chớp nhoáng thỉnh thoảng lóe lên. Hỉ như mưa rào nổi trên cơ thể liên tục, như sóng vỗ vào bờ. Hỉ nâng người có thể làm cho thân thể mất trọng lượng và bay bổng lên. Hỉ sung mãn là toàn thân được thấm nhuần, như cái chai đổ đầy nước.
Năm thứ hỉ nói trên, khi được làm cho chín muồi thì sẽ viên mãn 2 thứ khinh an là thân khinh an và tâm khinh an. Khinh an được làm cho chín muồi sẽ viên mãn 2 thứ lạc là thân lạc và tâm lạc. Lạc được ấp ủ làm cho chín muồi, sẽ viên mãn 3 thứ định là định chốc lát, định cận hành và định an chỉ.


Lạc (sukha

là sự hài lòng, sự hạnh phúc. Ðặc tính của nó là làm thỏa mãn. Dụng của nó là tăng cường độ các pháp tương ứng. Tướng của nó là sự hỗ trợ.
Khi hỉ lạc được liên kết, thì hỉ có nghĩa "hài lòng vì đạt được điều mong ước", còn lạc là "kinh nghiệm thực thụ đối với điều đã đạt được". Có hỉ tất nhiên có lạc, nhưng có lạc thì không nhất định có hỉ. Hỉ thuộc hành uẩn, lạc thuộc thọ uẩn. Lúc một người khát nước kiệt sức trên sa mạc mà thấy được vũng nước ven rừng, người ấy sẽ có hỉ, nếu người ấy đi đến uống nước ấy thì sẽ có lạc.


Nhất tâm hay định

là tâm chuyên chú vào một đối tượng duy nhất.


Sơ thiền là cấp thiền đầu tiên đối với các cấp bậc khác. Chứng (upassampajja) là đạt đến, là thể nhập, đến nơi, sờ chạm, thực hiện. Trú (viharati) là an trú trong tư thế thích hợp đối với cấp thiền đã đạt được.


Từ bỏ 5 pháp

tức là từ bỏ 5 triền cái (tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi). Mặc dù lúc đắc thiền, các pháp bất thiện khác cũng được từ bỏ, nhưng chỉ có 5 pháp nầy là đặc biệt chướng ngại đối với thiền.

Khi tâm bị tham dục chi phối do thèm muốn các đối tượng sai khác, thì không thể tập trung vào một đối tượng duy nhất. Khi tâm bị nhiễm độc bởi sân thì không thể sinh khởi hỉ lạc. Khi tâm bị hôn trầm, thùy miên chi phối, thì rất khó điều phục. Khi bị trạo hối quấy nhiễu, thì tâm trở nên bất an, lăng xăng. Khi hoài nghi nổi lên thì tâm không thể bước lên đạo lộ để đắc thiền.
Ðây là bản dồ dùng 5 thiền chi đối trị 5 triền cái.


Thiền chi

*

Triền cái
Tầm

đối trị
Hôn trầm
Tứ

đối trị
Nghi
Hỉ

đối trị
Sân
Lạc

đối trị
Trạo hối (cử)

Nhất tâm (định)

đối trị
Tham dục.

Những ví dụ về 5 triền cái: Tham dục được ví như một tô nước có trộn lẫn các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Sân được ví như một nồi nước đang đun sôi sùng sục. Hôn trầm được ví như một hồ nước bị rong rêu che phủ. Trạo hối được ví như một hồ nước bị gió chao làm cho nổi sóng. Nghi được ví như một hồ nước bị khuấy bùn đục ngầu. (Tương Ưng bộ kinh, Chương II, phẩm VI, mục 55, tr. 126-129)


Tốt đẹp ở 3 phương diện là chỉ cho 3 giai đoạn đầu, giữa và cuối. Ở Sơ thiền, sự thanh tịnh đạo lộ là chặng đầu; sự tăng trưởng xả là chặng giữa và sự toại ý là chặng cuối.


Mười đặc tính là chặng đầu có 3, chặng giữa 3 và chặng cuối 4. Chặng đầu 3 đặc tính là: tâm được lọc sạch chướng ngại do thiền; nhờ lọc sạch nó chuẩn bị cho trạng thái quân bình ở chặng giữa tức tịnh chỉ tướng; nhờ tâm đã chuẩn bị, nên dễ thể nhập trạng thái ấy. Chặng giữa 3 đặc tính là: hành giả bấy giờ, với trạng thái xả, nhìn tâm đã được thanh lọc; nhìn tâm đã được chuẩn bị cho tịnh chỉ, và nhìn sự xuất hiện của nhất tướng. Chặng cuối có 4 đặc tính là: toại ý vì không có sự quá độ nào trong các pháp khởi lên; toại ý vì các căn chỉ có một nhiệm vụ duy nhất; toại ý vì sự nỗ lực đã có kết quả; toại ý với nghĩa lý thuần thục. Ðó là 10 đặc tính khi m?t hành giả đã đạt được Sơ thiền.

Khi hành giả đã làm chủ sự tác ý, làm chủ sự chứng đắc, làm chủ sự quyết định, làm chủ sự xuất địnhlàm chủ sự quán sát, thì lúc xuất khỏi sơ thiền đã trở nên quen thuộc. Vị nầy có thể quán những khuyết điểm của nó như sau: "Thiền nầy bị đe dọa vì gần các triền cái, và các thiền chi còn yếu do bởi tầm, tứ còn thô". Hành giả có thể nghĩ đến Nhị thiền là an tịnh hơn; do đó, chấm dứt bám víu vào Sơ thiền, mà khởi sự làm những gì cần thiết để đạt đến Nhị thiền." (Thanh tịnh đạo toát yếu/ Thích Phước Sơn)

10. Nhị thiền 

Tác phẩm Thanh tịnh đạo toát yếu (1) viết rất rõ và chi tiết như sau:

Ðến đây, "hành giả làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỉ và lạc do định sanh; Vị ấy từ bỏ 2 pháp, có được 3 pháp,tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất."


Làm tịnh chỉ tầm và tứ nghĩa là làm cho tầmtứ lắng xuống, vượt qua TầmTứ, hai thiền chi này không có mặt ở Nhị thiền.


Nội tĩnh nhất tâm: Nội là phát xuất từ nội tâm. Tĩnh là làm cho tâm an ổn với niềm tin, làm lắng dịu sự dao động. Nhất tâm là làm tâm thuần nhất, vững chãi, là sự tập trung cao độ. Từ nầy chỉ cho định.


Có hỉ và lạc như đã giải thích ở Sơ thiền. Do định sanh nghĩa là sinh từ định của Sơ thiền, hoặc sinh từ định tương ưng.


Từ bỏ hai pháp là từ bỏ tầm và tứ. Có được 3 pháp là có hỉ, lạc và nhất tâm. Những gì còn lại cũng giống như đã nói ở Sơ thiền.
Khi hành giả đã nhuần nhuyễn đối với Nhị thiền, dần dần sẽ thấy rõ Nhị thiền còn có những khuyết điểm. Do đó, hướng đến Tam thiền.(3)

11.Tam thiền

Tác phẩm Thanh tịnh đạo toát yếu, Thích phước Sơn (3) viết rất rõ và chi tiết như sau:



Ðến đây, "Hành giả ly hỉ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm thọ lạc, một trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là "Có xả và chánh niệm, trú trong an lạc", và vị này đạt đến Tam thiền, từ bỏ một pháp, có được 2 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất. "

Ly hỉ là vượt qua, làm rơi rụng Hỉ ở Nhị thiền.

Trú xả (Upekkha-xả) có nghĩa là ngắm nhìn sự vật khi chúng xảy ra một cách thản nhiên, không thêm không bớt, không thành kiến. Khái niệm xả này gồm có 10 thứ: Xả thuộc 6 căn; Xả thuộc 4 phạm trú; Xả kể như một giác chi; Xả về tinh tấn; Xả về hành uẩn; Xả về thọ uẩn; Xả thuộc tuệ; Xả kể như tính trung lập đặc biệt; Xả ở thiền; Và xả kể như sự thanh tịnh.

Xả thuộc 6 căn là xả ở một vị đã đoạn tận lậu hoặc. Xả kể như một phạm trú là thái độ bình đẳng đối với mọi loài chúng sanh. Xả kể như một giác chi là trạng thái trung tính. Xả về tinh tấn là trạng thái không quá tinh cần, cũng không quá biếng nhác. Xả thuộc hành uẩn là thái độ thản nhiên đối với những triền cái. Xả về thọ uẩn là tình trạng không lạc không khổ. Xả thuộc tuệ là tính cách trung lập đối với sự suy đạt. Xả kể như tính trung lập đặt biệt là một trong 4 pháp thuộc bất định pháp. Xả thuộc thiền là tính vô tư bình đẳng. Xả kể như sự thanh tịnh là loại xả nhờ đã được tịnh chỉ hết các đối lập. Tóm lại, Xả nầy có đặc tính là trung tính; Nhiệm vụ nó là không can dự. Nó được biểu hiện bằng vô dục. Nhân gần của nó là sự từ bỏ hỉ. Ðó là giải thích về Xả. Sau đây, tiếp tục giải thích các vấn đề ở trên.

Chánh niệm tỉnh giác: Vị ấy nhớ lại (sarati) nên gọi là chánh niệm (sati); có sự giác tỉnh toàn vẹn, nên gọi là tỉnh giác (sampajàna). Mặc dù chánh niệm và tỉnh giác nầy cũng hiện hữu ở 2 thiền đầu, nhưng chưa rõ rệt lắm.

Thân cảm thọ lạc là vị này cảm thấy lạc liên hệ đến thân thể, và sau khi xuất thiền vẫn còn lạc.

Tam thiền là theo thứ tự thiền này được chứng vào hàng thứ 3.

Từ bỏ một pháp, có hai pháp là từ bỏ hỉ, khởi lên lạcnhất tâm. Ðây là những yếu tố căn bản của thiền thứ 3 này. Nhưng hành giả tu tập thiền này đến độ thuần thục, dần dần sẽ nhận ra thiền này vẫn còn khuyết điểm, nên hướng tâm đến thiền thứ tư.

12. Tứ thiền

Cũng thế, tác phẩm Thanh tịnh đạo toát yếu, Thích phước Sơn (3) viết rất rõ và chi tiết như sau:

" Bước sang giai đoạn này " Với sự từ bỏ lạc và khổ, với sự biến mất từ trước của hỉ và ưu, vị này chứng và trú Tứ thiền, không khổ, không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả. " Và như vậy, hành giả đắc Tứ thiền, từ bỏ một pháp, có 2 pháp, tốt đẹp ở 3 phương diện, có 10 đặc tính và thuộc biến xứ đất.

Với sự từ bỏ lạc và khổ là từ bỏ lạckhổ của thân. Với sự biến mất của hỉ và ưu là sự biến mất lạckhổ của tâm. Từ trước là không phải ở giai đoạn Tứ thiền mới xảy ra.

Không khổ không lạc: không khổ vì vắng mặt thân khổ; Không lạc vì vắng mặt thân lạc. Bằng câu này, luận chủ nêu lên loại cảm thọ thứ ba trái ngược hẳn với khổ và lạc, chứ không phải chỉ có sự vắng mặt của khổ và lạc mà thôi. Do đó, không khổ không lạc còn gọi là xả.

Từ bỏ một pháp, có được hai pháp là từ bỏ lạc, có được xả - kể như cảm thọ - và nhất tâm. Ðây là những yếu tố căn bản của thiền thứ tư này.

Tóm lại, trải qua các giai đoạn từ Sơ thiền đến thứ tư, dần dần các yếu tố được loại trừ và còn lại như sau:

- Sơ thiền bỏ 5 triền cái, được 5 thiền chi. - Nhị thiền bỏ tầm tứ, còn lại hỉ, lạcnhất tâm. - Tam thiền bỏ hỉ còn lại lạcnhất tâm. - Tứ thiền bỏ lạc còn lại nhất tâmXả.

--
(1) http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung19.htm
(2) http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung36.htm
(3) http://www.budsas.org/uni/u-ttd-ty/ttd-ty02.htm
(4) http://www.budsas.org/uni/u-chiquan/chiquan2.htm


Wednesday, 21 January 2015

Ngay da be cong toi.. Tho Ba-Lan Urszula Koziol



Mời Mit 

xem câu này..hình tượng hay quá đi:

nhưng ngày đã bẻ cong tôi như chính cành của nó..


Mùa hè

Bây giờ có phải buổi trưa của tôi hay là bóng tối
Tôi nghe đuổi đến gần
những móng ngựa của giờ khắc đang điểm

Tôi muốn bẻ cong ngày
như một cành cây
trong vườn quả người lạ

nhưng ngày đã bẻ cong tôi như chính cành của nó

URSZULA KOZIOŁ

Bản dịch Hoàng Ngọc Biên

Trinh bay bai giang..

Hi Mit,

Anh thích cách trình bày của GVD trên youtube từ lâu..
Giới thiệu với em và bạn đọc..

ĐN

Cách làm bài giảng trực tuyến


Giáp Văn Dương


Sau khi giới thiệu kênh giáo dục trực tuyến GiapSchool1, tôi nhận được khá nhiều câu hỏi về cách thức soạn bài giảng trực tuyến dưới dạng video clip bằng máy tính. Vì thế, bài viết này có mục đích chia sẻ những kinh nghiệm của tôi, thu được trong quá trình làm các video clip bài giảng này. Tôi hy vọng những kinh nghiệm còn thiếu sót này sẽ giúp ích được ít nhiều cho các thầy cô giáo, hoặc những người muốn chia sẻ kiến thức với cộng đồng.

h1 h2

1. Bốn câu hỏi khởi đầu

Trước khi tiến hành làm các bài giảng trực tuyến, bạn phải trả lời rõ ràng 4 câu hỏi sau: Giảng cho ai? Giảng cái gì? Giảng để làm gì? Giảng như thế nào?
Chỉ khi nào bạn trả lời rõ ràng được 4 câu hỏi này, bạn mới ý thức được ý nghĩa việc làm của mình. Khi đó, bạn sẽ tìm ra cách làm phù hợp nhất, trọn vẹn nhất.
Vì mỗi người có một cách trả lời riêng cho các câu hỏi này, nên tôi sẽ để ngỏ câu trả lời cho các bạn.Trong các phần sau, tôi sẽ giới thiệu làm các video bài giảng trực tuyến mà không sử dụng camera ngòai để quay. Cách làm này có ưu điểm là đầu tư nhân lực và vật lực thấp. Một mình bạn cũng có thể làm được. Việc bạn lựa chọn cách làm này, hay cách quay bài giảng theo kiểu truyền thống, là theo sở thích cá nhân, và theo điều kiện của riêng bạn.

2. Giảng bài với máy tính cá nhân

Với máy tính bàn, bạn cần trang bị tối thiểu một microphone, một loa và nếu muốn có hình ảnh của mình xuất hiện trong bài giảng, thì cần thêm một webcam. Nếu muốn chữ trên bài giảng là chữ viết tay thì trang bị thêm Wacom Bamboo Tablet, một loại bảng vẽ điện tử cho phép chuyển những gì mình viết trên bảng này lên màn hình máy tính. Và tất nhiên một phần mềm có khả năng ghi lại màn hình và âm thanh. Có rất nhiều phần mềm phù hợp với việc này, như Camstudio2, Camtasia recorder3

Tôi đã thử Camstudio cho bài giảng được soạn bở powerpoint, thấy kết quả rất tốt. Tôi được biết, Khanacademy4 dùng Camtasia recorder để ghi hình và âm thanh, kết hợp với Wacom Bamboo Table để có chữ viết tay trên video clip bài giảng.

Để giảng bài bằng máy tính cá nhân, trước hết bạn cần soạn bài giảng bằng power point, hoặc một phần mềm trình bày tương tự. Bạn cũng có thể soạn bài và giảng bài trực tiếp trên nền một phần mềm viết, vẽ nào đó. Sau đó bạn chạy phần mềm ghi hình (Camstudio hoặc Camtasia recorder) để ghi lại toàn bộ màn hình máy tính và lời giảng. Bạn có thể ghi chọn lọc một vùng nào đó trên màn hình để chỉ tập trung vào phần chứa nội dung bài giảng, tránh các phần không liên quan bị lẫn vào video clip của bạn.
Tất nhiên, để có thể sử dụng thành thạo các phần mếm này, bạn phải làm quen, có thể một buổi hoặc một ngày, và đọc hướng dẫn trước khi sử dụng.

3. Giảng bài với máy tính bảng ipad

Nếu bạn có máy tính bảng ipad, bạn có thể làm các video bài giảng trực tuyến với sự hỗ trợ của các phần mềm chuyên dụng (app) như ScreenChomp5, Educrations6, Doceri7, Lecture Capture, ReplayNote8, Explain Everything9… Các phần mềm này đều có trong App Store. Bạn phải mua, thường là vài đô-la, hoặc tải về miễn phí. Trong đó, ScreenChomp và Educreation là dễ sử dụng nhất, còn Explain Everything là phức tạp nhất. Riêng Doceri thì có thể dùng cả trên ipad và máy tính bàn, tức có thể xử lý bài soạn trên ipad bằng máy tính cá nhân thông thường. Tùy yêu cầu mà bạn chọn phần mềm phù hợp với mình. Để viết, bạn có thể dùng tay hoặc bút cảm ứng.
Cá nhân tôi, ban đầu tôi dùng đồng thời Lecture Capture, ReplayNote và Explain Everything. Lecture Capture dễ dùng nhất nhưng ra mực không mượt nên chữ xấu. ReplayNote chữ đẹp, dễ sử dụng nhưng không có tính năng zoom. Còn Explain Everything thì phức tạp hơn, xuất clip cũng mất thời gian hơn, nhưng có thể phóng to thu nhỏ. Đến nay, tôi dùng chủ yếu là Explain Everything, tuy mất nhiều thời gian xuất video clip, nhưng tính năng zoom của nó phù hợp với triết lý giảng bài của tôi hơn cả.
Tôi cũng phải nói rằng, các app này đều có hạn chế riêng, có thể do người viết phần mềm chưa phải là những giảng viên chuyên nghiệp nên không hình dung được hết những yêu cầu cần phải có để tạo ra một bài giảng tốt. Hy vọng, trong tương lai những phần mềm tốt hơn sẽ xuất hiện, giúp cho việc bài giảng trực tuyến được thuận lợi và dễ dàng hơn.
Ngòai ra, trước khi sử dụng, tất nhiên, bạn phải dành thời gian tìm hiểu và đọc các hướng dẫn, thường khá dễ, thì mới dùng được các phần mềm này.
Tôi đã mất hơn một tuần chỉ để tìm kiếm và thử nghiệm các app này. Tuy nhiên, soạn và giảng dùng ipad tuy có cơ động, nhưng không thể tốt như khi dùng máy tính cá nhân. Lý do là với máy tính cá nhân, bạn có thể dùng nhiều phần mềm hỗ trợ mạnh hơn, việc xử lý dữ liệu và biên tập bài giảng sau đó cũng sẽ tốt hơn. Do đó, tôi sẽ sớm trở lại sử dụng máy tính cá nhân để soạn và giảng bài.
Hy vọng, những chia sẻ này sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức cho các bạn.

4. Soạn bài, giảng bài, biên tập

Trước khi làm các video clip bài giảng, bạn phải soạn bài, sau đó giảng bài có thu âm ghi hình, và biên tập các video bài giảng thô này thành các video clip hoàn chỉnh.
Chất lượng của việc soạn bài phụ thuộc vào kiến thức, tài liệu tham khảo, và năng lực chuyên môn của riêng bạn. Không ai có thể làm thay bạn việc này được.
Lưu ý rằng thời gian đọc, tham khảo tài liệu, bố trí nội dung, soạn bài…, tức thời gian chuẩn bị, thường lâu hơn thời gian giảng bài thực.
Chất lượng của việc giảng bài phụ thuộc trước hết vào chất lượng bài soạn, hoặc kiến thức trong đầu của bạn, sau đó là phương pháp sư phạm, như cách thức truyền đạt, phong thái, giọng nói, khả năng giữ nhịp, khả năng liên kết các mục của bài giảng, thậm chí cả ngọai hình của bạn nếu ghi hình trực tiếp kiểu truyền thống. Với việc giảng bài trên lớp, đây là một phần khó. Với việc giảng bài trực tuyến, vì không có phản hồi trực tiếp của học sinh, nên việc này còn khó khăn gấp bội.
Sau khi có các video clip bài giảng thô rồi, bạn thường phải dùng các phần mềm biên tập để có được các video clip hoàn chỉnh. Với máy tính cá nhân thông thường, dễ dùng và có lẽ phổ biến hơn cả là Movie Maker của Windows. Nếu bạn dùng ipad hoặc các dòng máy tính của Apple, bạn có thể dùng iMovie để biên tập. Thời gian biên tập, thường mất nhiều hơn cả thời gian giảng bài.

5. Cần một triết lý riêng

Khi giảng bài trực tuyến, tôi nhận thấy rõ, mỗi bài giảng thực sự là một tác phẩm sáng tạo, vì thế đòi hỏi những đầu tư thích đáng trong việc chuẩn bị, thiết kế và triển khai. Nhưng trên hết là một hệ thống các ý tưởng, các quan niệm làm bệ đỡ phía sau các bài giảng này. Đó có thể là các quan niệm rất cụ thể về một chủ đề nào đó; nhưng cũng bao gồm cả các quan niệm rộng hơn về các thang giá trị; các quan niệm về thực tại và diễn giải; về chủ quan và khách quan; về xác định và bất định; về tri thức và cảm xúc; về khả năng và giới hạn; về tự do và nguyên tắc; về sự bất khả; về cái Thật, cái Thiện và cái Đẹp; về bản chất con người…
Xuất phát từ các quan niệm này, bạn sẽ thiết kế và triển khai các bài giảng của mình. Trong quá trình đó, bạn phải tạo được một phong cách, hay một triết lý riêng. Việc này quả thật không đơn giản. Với cá nhân tôi, phải mất hơn một tháng suy nghĩ, thử và lựa chọn, tôi mới hình thành được triết lý riêng cho việc giảng bài của mình. Đó là bài giảng theo thời gian thực, nhưng tổ chức bài giảng theo sự tiến hóa của tự nhiên và sắp xếp chúng theo mạch ký ức của con người. Cụ thể: Từ một màn hình đen kịt, như huyền vũ thuở ban sơ, cô đơn, hoang mang và huyền bí; cảm giác gần giống như khi ta nhìn lên bầu trời vào một đêm không trăng, lác đác đó đây một vài vì sao nhỏ; rồi từ đó tiếng nói, con chữ và hình vẽ xuất hiện; sự sống bắt đầu và tiến hóa dần thành những tổ chức phức tạp; thành con người với bao buồn vui hy vọng, bao điều cần khám phá. Cái khách quan của tri thức lạnh lùng và cái chủ quan đầy cảm xúc của người giảng sẽ hòa quyện vào nhau trong suốt mạch giảng. Nhưng cũng giống như cuộc đời, tất cả rồi sẽ qua đi để trở thành ký ức. Những lớp ký ức chồng chất lên nhau và được xếp vào một góc nhỏ ở phía trái màn hình, để hiện tại nảy nở sinh sôi. Chỉ khi nào cần thiết, ta mới truy hồi trở lại ký ức. Còn không, tất cả sẽ chỉ là hiện tại. Một hiện tại ngay trên màn hình: ở đây, bây giờ; trong một mạch thời gian vừa tĩnh lặng, vừa cuộn chảy.
Mỗi bài giảng sẽ có một số phận riêng như chính mỗi con người. Chính vì thế, chúng phải có một ký ức để nhớ về, một hiện tại còn ngổn ngang và một tương lai bất định, dù chúng ta đã cố gắng hoạch định nó. Cũng chính vì thế, chúng cần một phong cách riêng, một triết lý riêng để sống.

6. Đưa bài giảng đến với cộng đồng

Sau khi đã có bài giảng hoàn chỉnh, bạn phải đưa được bài giảng của mình đến với cộng đồng. Cách phổ biến nhất là upload các bài giảng này lên youtube, sau đó chia sẻ các đường link đến những người quan tâm, thông quan Facebook, email, hay bất cứ công cụ giao tiếp trực tuyến nào khác.
Nếu dùng Educreations, ReplayNote… thì bài giảng của bạn sẽ được upload trực tiếp lên server của các app này. Bạn sẽ có tài khỏan và đường link của các bài giảng này, và có thể theo dõi các bài giảng liên quan cộng đồng sử dụng phần mềm này (ví dụ với Educrations). Khi đó, bạn chỉ cần chia sẻ đường link bài giảng với cộng đồng.
Nếu có điều kiện, bạn có thể lập một trang blog, hoặc sang hơn là một trang web riêng, để đăng tải các bài giảng này.
7. Nhận phản hồi
Sau khi đã đăng tải các bài giảng lên mạng internet, bạn cần lắng nghe các phản hồi để điều chỉnh. Lý do: khi giảng bài, bạn không có bất cứ phản hồi nào từ học viên thực để có thể điều chỉnh tại chỗ, nên bạn phải lắng nghe phản hồi sau đó để điều chỉnh về nội dung, phương pháp, các tiếp cận, thậm chí cả lỗi trong bài giảng do người học chỉ ra… để khắc phục sai sót nếu có, và rút kinh nghiệm cho các bài giảng sau được hoàn thiện hơn.
Việc tiếp nhận và xử lý các phản hồi này cũng đòi hỏi thời gian và một sự kiên nhẫn không kém gì việc soạn bài, giảng bài và biên tập bài giảng.

8. Ước luợng chi phí

Rất khó để ước lượng chi phí cho việc làm các bài giảng trực tuyến này, vì chi phí lớn nhất là thời gian. Mà giá trị của thời gian lại phụ thuộc từng cá nhân. Với bạn, giá của một giờ làm việc có thể là 1000 USD/giờ, nhưng với tôi lại có thể thấp hơn, nên rất khó đưa ra một ước lượng chính xác. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng thời gian để làm đơn vị tính, thì trung bình, tổng thời gian để tạo ra được một video clip bài giảng dài 10 phút là khoảng 2-3 giờ, tùy mức độ khó dễ và nguồn tư liệu sử dụng trong nội dung bài giảng. Với những vấn đề thuộc chuyên môn của bạn, thời gian có thể ngắn hơn, chỉ khoảng 1 giờ. Nhưng với những vấn đề mới thì thời gian tìm đọc và xử lý tài liệu có khi lên đến cả ngày, hoặc hơn.Ngòai ra, để có đầy đủ thiết bị có thể tạo ra các bài giảng này, bạn phải đầu tư tối thiểu một máy tính/máy tính bảng và một số thiết bị phụ trợ. Số đầu tư này ước tính khoảng 1000 USD với giá hiện thời.

Nếu đầu tư thêm trang thiết bị khác, sách vở, tư liệu tham khảo, và nhất là một phòng thu đúng tiêu chuẩn, thêm một chuyên viên kỹ thuật để xử lý nhiễu âm thanh và hình ảnh, thì chất lượng các video clip này sẽ được cải thiện gấp bội. Những đầu tư này có thể lên đến hàng chục, hoặc hàng trăm nghìn đô-la. Điều này vượt quá khả năng của hầu hết chúng ta, trong đó có tôi. Vì vậy, chúng ta phải chấp nhận làm việc với những gì mình đang có, dù không được ưng ý.
Nếu bạn đã đọc được bài viết này, nhiều khả năng bạn đã có máy tính cá nhân hoặc máy tính bảng riêng, nên chi phí để khởi động không còn là vấn đề đáng lo ngại. Điều cần lo ngại là bạn có đủ muốn, đủ đam mê để thực hiện hay không mà thôi.

9. Những khó khăn lường trước

Để làm quen và sử dụng thành thạo các công cụ đã nêu trên, có thể bạn phải mất một vài ngày, hoặc một vài tuần. Tuy nhiên, với những khó khăn mang tính kỹ thuật này, phần lớn chúng ta đều có thể vượt qua nếu muốn.
Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, khó khăn nhất là phải giảng cho máy tính chứ không phải cho những học viên thực đang ngồi trước mặt bạn. Khi giảng bài cho học viên, bạn sẽ có phản hồi ngay tức thì, và sẽ điều chỉnh tốc độ, phong cách, nội dung bài giảng… theo các phản hồi đó. Nhưng màn hình máy tính thì không thể làm được điều đó, nên chẳng còn cách nào khác là bạn phải tự dò dẫm. Với bài giảng thực trên lớp, nhịp điệu bài giảng sẽ diễn ra một cách rất tự nhiên, phù hợp nhất phong thái với bạn. Nhưng với bài giảng trên máy tính, bạn phải kiểm soát nó một cách nhân tạo và có chủ ý, sao cho bài giảng không rời rạc, buồn ngủ.
Ngòai ra, khi giảng bài trên lớp, bên cạnh nội dung bài giảng thì bạn có rất nhiều công cụ để sử dụng hỗ trợ, như động tác tay, lời nói, ánh mắt, nụ cười, khoảng lặng, phản ứng và hưởng ứng của học sinh…Những điều này làm cho bài giảng của bạn dễ dàng và trơn tru hơn rất nhiều sơ với giảng bài trên máy tính. Vì với máy tính, bạn chỉ có một công cụ duy nhất là giọng nói. Bạn phải điều khiển nó như điều khiển một dải lụa mềm xuyên suốt bài giảng, sao cho người nghe không rời rạc, chán nản và bỏ giữa chừng. Lý tưởng nhất là bên cạnh kiến thức chuyên môn thì bạn có thêm tố chất của một MC hoặc một diễn viên tấu hài. Khi đó, bài giảng của bạn sẽ hấp dẫn hơn rất nhiều.
Vì đã có kinh nghiệm giảng bài cả trên lớp và trên máy tính, nên nếu phải so sánh hai việc này thì tôi có hai so sánh sau, bạn tùy chọn cách nào dễ hình dung nhất đối với mình:
  • Giảng bài trên lớp giống như khi bạn vẽ tranh với quyền được sử dụng nhiều màu sắc khác nhau. Đó là các phương tiện hỗ trợ cho bài giảng như tư thế đi lại, động tác tay, lời nói, ánh mắt, nụ cười, phản ứng và sự cộng hưởng của học sinh, thậm chí khoảng lặng…. Còn giảng bài trên máy tính, bạn giống như đang vẽ tranh với một màu duy nhất. Đó là giọng nói. Bạn có thể chọn màu xanh, đỏ, tím, vàng, đen… tương ứng với chất giọng cố hữu của mình, với các mức độ đậm nhạt khác nhau do bạn tự điều chỉnh, nhưng đó chỉ là một màu duy nhất, và là tất cả những gì bạn có thể sử dụng để vẽ.
  • Khi giảng bài trên lớp, bạn được sống, được thể hiện cảm xúc với những con người thực sự đầy sinh động. Còn khi giảng bài trên máy tính, bạn phải sống và thể hiện cảm xúc với một vật thể vật lý, đó là màn hình máy tính. Điều này quả thật không dễ, đòi hỏi bạn phải rất tĩnh, rất thoát, rất trống rỗng, hoặc có hỗ trợ cảm xúc của người bên cạnh, như thể bạn đang giảng bài cho họ nghe, thì mới có thể làm tốt được.
  • Vẽ một bức tranh và lấp đầy các khoảng trống bằng chỉ một màu duy nhất là không dễ. Cá nhân tôi, với những bài giảng đầu tiên, tôi phải giảng đi giảng lại đến 5-7 lần, vì chỉ cần nói nhịu, nói sai, hay vấp một chỗ nào là đã có thể phải làm lại. Và chỉ khi đến bài giảng thứ 77, tôi mới tạm làm chủ được được việc giảng bài trên máy tính của mình. Vì thế, bạn cần kiên nhẫn, và đặc biệt, bạn phải thật tĩnh, thật thoát, thật trống rỗng, giống như khi thiền định vậy, thì mới có thể thực hiện hiệu quả.
    Ngòai những khó khăn trên, tiếng ồn và sự phân tâm cũng là những khó khăn mà bạn cần lường trước. Đặc biệt, bạn phải nhận được sự ủng hộ của những người thân thiết nhất. Nếu không, bạn sẽ bị coi như một kẻ tâm thần, khi cả ngày chỉ ngồi lảm nhảm một mình trước màn hình máy tính mà không lo gì đến chuyện cơm áo gạo tiền.

    10. Hãy đi, rồi sẽ tới

    Nếu bạn có một đội ngũ hỗ trợ trong việc soạn và giảng bài thì mọi việc sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Khi đó, bạn không cần phải vượt qua tất cả các khó khăn một mình, mà luôn có đồng đội ở bên cạnh. Việc soạn bài, giảng bài, ghi hình, biên tập… sẽ mang tính chất công nghiệp, với những quy tắc và tiêu chuẩn chung, nên sẽ dễ dàng hơn vì luôn có điểm tựa ở phía sau bạn. Nhưng nếu bạn làm tất cả một mình, như tôi chẳng hạn, thì bạn cần lường trước những khó khăn để không bỏ cuộc.
    Cũng giống như trong mọi việc sáng tạo khác, để có một tác phẩm tầm tầm thì rất dễ, nhưng để có một tác phẩm hòan mỹ thì gian khó vô cùng. Vì thế, khi gặp khó khăn, mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu bạn không cầu toàn. Những lúc đó, bạn phải biết bao dung với chính mình.
    Đến đây, tôi viết đã khá dài, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi hy vọng những chia sẻ này sẽ không làm bạn nản chí, mà ngược lại, sẽ giúp bạn hình dung rõ hơn các khía cạnh của việc làm bài giảng trực tuyến, để thêm quyết tâm thực hiện. Vì ít nhất, cũng đã có hơn một người mò mẫm và vượt qua.
    Trước khi kết thúc, chỉ xin lưu ý bạn rằng, dù bạn làm một mình, hay với đồng đội, thì điều quan trọng nhất là bạn phải bắt đầu. Hành trình nào cũng khởi đầu bởi một bước chân. Hãy đi, rồi sẽ tới...

    Chúc các bạn thành công!

    Giáp Văn Dương

    1 http://www.youtube.com/giapschool
    2 http://camstudio.org/
    3 http://www.techsmith.com/camtasia.html
    4 http://www.youtube.com/khanacademy
    5 http://www.techsmith.com/screenchomp.html.
    6 http://www.educreations.com/
    7 http://doceri.com/
    8 http://replaynote.com/
    9 http://www.explaineverything.com/

    --
    http://www.diendan.org/khoa-hoc-ky-thuat/cach-lam-bai-giang-truc-tuyen