Friday, 25 September 2020

Phân tích giấc mơ


 

 1

Mơ

"Phía đông của Châu Phi

Thành phố nằm trong một vịnh

Một người quen trong mơ"

Phân tích:

Giấc mơ này chỉ nhớ các Fragmente, không nhớ toàn câu chuyện.

Nhớ là, trong mơ mình và 1 người đàn ông người ngoại quốc,mới quen,

trong mơ cả 2 đi tìm 1 địa điểm, và đã tìm được một một cái tên, thì ra

đây là 1 thành phố bên phía đông nam của phi châu. Một cái tên ngắn có chữ P hay B,

nguyên âm có chữ i.

Sau đó gặp 1 anh bạn nhắc lại về 1 TP bên bờ biển phía nam Thái-Lan gần VN.

Kết luận:

Chỉ nhớ như thế.

Tương lai phải chú ý mới có thể nhớ nhiều hơn chăng?

Mơ mà nhớ mới hay!


 

1

Nhớ đi chơi bên Tàu

Thèm cafe chỉ có vào KFC

Khác với Vietnam

Tiệm cafe phong phú!


2

Khi ngủ ta nằm mơ

Thường không nhớ

Khi tỉnh dậy!

Nhưng hôm nay

Lạ lùng thay

Khi tỉnh dậy

Nhớ cả 3 cảnh

trong giấc mơ!

Cảnh 1

Mình chiêm ngưỡng kiến trúc 1

căn nhà bên sông

của 1 anh việt kiều làm nghệ thuật ở Mỹ

Cảnh 2

Quen làm bạn với 2 người Việt gốc Ấn độ

Cùng rủ nhau đi vẽ..

Cảnh 3

Cả 3 tụi mình

Bổng gặp Joschka Fischer

đang đi trên đường vui vẽ!

Hết mơ rồi tỉnh dậy ghi xuống ngay..


ĐN

Dư âm câu chuyện em từng kể,

 


  

Mây ở mô rồi, langthang ở đâu!

Cho ta nghe tiếng nhạc bên cầu,

Dư âm câu chuyện em từng kể,

Ôm mãi trong đời không mất đâu.

 

ĐN

Thursday, 24 September 2020

Vô đề

 


 

Ta đi 

giữa hai hàng cây bồ đề

Hương đêm 

mùi hoa hồng đê mê

 

Ta bỗng nhớ về em 

Cô gái ta ngưỡng mộ

Ôi yêu quý nhất,

Độc đáo nhất 

là lịch sữ của em!

 

Mỗi người con gái 

có 1 lịch sữ riêng

Và ta yêu, 

ta ngưỡng mộ 

lịch sữ độc đáo của em

 

Em rất đẹp

Duyên dáng

Em thông minh

Em anh hùng

 

Hiếm có ai 

trên đời như em

 

Ôi những cây bồ đề

Trên con đường Johannes

Hạnh phúc mỗi lần 

Ta đi qua đó

Dù buổi sáng

Dù đêm khuya

Trong tai ta lại nghe 

Tiếng ngêu ngao 

giọng em đùa:

..cây đa, cây đề.

Yêu em!

 

ĐN

Đầu thu 2020

24.9.2020

 


Monday, 21 September 2020

Silvester năm nào.. quên rồi

 


1

Anh bạn Bắc-phi đến

Để lấy cái xe đạp, he lại thích thêm cái baton.

Okie, thêm cái ghế ikea và cái đồ nương thịt..

Thế là balkon có chổ trống

Thế là cánh cửa gỗ ua.cũng được vất đi

He còn muốn xin cái ghế schaukelstuhl, cũng sẵn sàng..

Đồ đạc chỉ choán chổ, vô dụng mà..


2

Vui quá!

Mai nên tiếp tục..



Sach cua Tran Duc Thao

 


Binh luan sau:

 

Trích

..

 

Về Quyển Sách của Trần Ðức Thảo: 
“Hiện Tượng Học và Duy Vật Biện Chứng”

Roland Barthes [1]

Trong số các bài điểm sách về tác phẩm trên của Trần Đức Thảo, đây là bài ngắn mà sát nhất, đăng trên Combat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes Toàn Tập, quyển 1, 1993, tr. 107. Bản dịch của Phạm Trọng Luật.

Quyển sách của Trần Đức Thảo là một thử nghiệm liên kết hai phương pháp cho đến nay vẫn bị xem là thù địch bởi những người chủ trương của cả đôi bên: hiện tượng học của Husserl và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sự kết hợp này, thật ra, không phải là một cuộc hoà giải: điều mà hiện tượng học có thể mang lại cho chủ nghĩa Marx là một cách thức mô tả nghiệm sinh, có thể nói là một thứ ngôn ngữ nếu muốn; ngược lại, điều mà chủ nghĩa duy vật biện chứng có thể mang lại cho sự mô tả hiện tượng học là đường chân trời và sự hoàn tất. Như vậy là có cấp bậc, và niềm tin của Trần Đức Thảo được đặt dứt khoát nơi chủ nghĩa Marx chứ không phải trên hiện tượng học: ngay cả khi được trình bày trong sáng như trong suốt phần một của tác phẩm, hiện tượng học vẫn là bất cập; trái lại chủ nghĩa Marx thì hoàn chỉnh và chỉ nhận từ hiện tượng học một thứ thiết bị kỹ thuật. Thật ra, đây là một hành trình: hiện tượng học trao đuốc thiêng lại cho chủ nghĩa Marx cùng với loại từ vựng cho phép nó mô tả sự vận động của ý thức và những huyền thoại của Lịch Sử.

Trong phần hai của tác phẩm, Trần Đức Thảo đã dùng sự mô tả hiện tượng học như thế để phục vụ cho hai khẳng định chính của chủ nghĩa Marx. Thứ nhất: ý thức được xây dựng từ vật chất; ở đây, ông Thảo phân tích một số tập tính của thú vật và trẻ em, và bằng cách miêu tả sự chênh lệch nói chung giữa những hành vi ngoại hiện với ý nghĩa nội tại, ông có thể giải thích mỗi tình trạng ý thức dựa trên một trạng thái vật chất trước đó. Bởi vì đối với ông Thảo, «trong mỗi vận động ý hướng tính chẳng có gì khác hơn là một vận động vừa phác họa đã bị trấn áp» [2].

Khẳng định thứ hai được Trần Đức Thảo cho mượn thiết bị hiện tượng học là: mỗi hệ tư tưởng khác nhau của nhân loại đều có một nội dung chính xác. Thảo xác định biện chứng của các xã hội người, và chỉ ra trong mỗi huyền thoại hoặc triết lý cái hoạt ánh nhại dạng của những quan hệ sản xuất đương thời.

Rất đặc sắc, sự chứng minh của Trần Đức Thảo có giá trị lớn là đã đặt sự tiến hoá của tư tưởng và huyền thoại vào trong sự tiến hoá của Lịch Sử chiều sâu, đó là lịch sử của sở hữu, hay đúng hơn nữa, của ý tưởng sở hữu. Chắc hẳn đây không phải là một hệ thống phương trình đã giải cạn những giai đoạn của Lịch Sử. Như đã được viết, quyển sách của Trần Đức Thảo tiêu biểu cho tình trạng sau cùng - nhưng chưa phải là tối hậu - của chủ nghĩa Marx tư duy.

Chú thích

     

[1] Roland Barthes (1915-1980). Nhà văn, nhà phê bình và lý luận văn học Pháp. Mồ côi cha từ khi lên một, lao phổi từ năm 19 tuổi. Học tại các trường trung học Montaigne và Louis-le-Grand, trước khi vào đại học Sorbonne (1935). Đọc nhiều từ trẻ và xuất ngoại cũng không ít. Trong thời kỳ dưỡng bệnh ở Thụy Sĩ (1945-1949), làm quen thêm với tác phẩm của Michelet, Sartre, Marx, Lénine và Trotski. Barthes đã từng làm quản thủ thư viện tại Viện Pháp Học ở Bucarest (1948), công tác ở Văn Hoá Vụ của Bộ Ngoại Giao (1950-1952), nghiên cứu xã hội học tại Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Gia (1955), nhưng chủ yếu vẫn là dạy học (1949-1951: Đại Học Alexandrie Ai Cập; 1962: École Pratique des Hautes Études Paris; 1969-1970, Đại Học Rabat Maroc). Chính trong thời kỳ làm lecteur (trợ giáo về sinh ngữ) tại Alexandrie mà ông tiếp xúc với ngôn ngữ cấu trúc (Saussure, Brœndal et Jakobson), và trở thành đại biểu chính của cấu trúc luận trong văn học. Ngoài ra, ông còn hoạt động tích cực trong nhiều lãnh vực văn hoá khác, như kịch nghệ (cộng tác với Théâtre Populaire, ủng hộ Jean Vilar, giới thiệu kịch của Brecht), báo chí (viết cho Combat, Esprit, France-Observateur, Tel Quel…), và xuất bản (cố vấn văn học cho Arc, tham gia xây dựng các tạp chí Arguments, Communications, Quinzaine Littéraire). Năm 1977, Barthes được bổ giáo sư ngành Tín Hiệu Văn Học tại Thái Học Viện Pháp Quốc (Collège de France). Ông mất năm 1980 sau một tai nạn xe hơi ngay trước Viện, để lại một sự nghiệp đồ sộ, chủ yếu là văn học, bên cạnh một số «hệ thống ý nghĩa» khác (thời trang, nhiếp ảnh…). Tất cả đã được in lại trong bộ: Barthes, Roland. Oeuvres complètes. Ed. établie et présentée par Eric Marty. Paris: Ed. du Seuil, 1993-1995. 3 t. (I: 1942-1965; II: 1966-1973; III: 1974-1980)

[2] Mỗi sinh vật là trung tâm của những chuỗi vận động và hành vi liên tục.  Hành vi mới nối tiếp hành vi cũ, và ý thức xuất hiện đúng vào lúc hành vi cũ vừa khởi hiện đã bị hành vi mới lấn át. Chính những phác thảo vận động bị trấn áp này tạo nên ý thức như dữ kiện nghiệm trải. Như thế, nghiệm sinh luôn luôn trễ hơn hành vi thực sự một bước. Ý thức luôn luôn chạy theo hiện thực, bởi vì sự thật là hiện thực quy định ý thức chứ ý thức không quy định hiện thực.

--

http://www.viet-studies.net/TDThao/TDThao_Barthes.htm
 

Tran duc Thao


Trần Ðức Thảo, một kiếp người

Trích Phan Huy Đường

..

Sinh thời Jean Paul Sartre coi ông là một trong số rất hiếm những người mácxít không chìm đắm trong tụng niệm, dám xông pha nơi biên ải của sự hiểu biết. Ðúng là Trần Ðức Thảo đã xông pha khi ông công bố Phénoménologie et matérialisme dialectique59. Ông đã tìm cách thống nhất tính ý hướng (intentionnalité) của ý thức, tính tự do của con người với quá trình vận động của Lịch sử. Ông đã theo rõi những bước đi chập chững của sinh học cuối thập niên 1940, cố tìm nhịp cầu nối liền sự sống với tư duy. Ông đã choảng cả trọng khối của hiện thực vào quan điểm siêu việt (transcendance) của các bạn đồng song ở phố Ulm. Ðối với các nhà "mácxít" chính thống, ông làm loé sáng cái intentionnalité rất có vấn đề. Hai sự khước từ ấy, hai đòi hỏi ấy, là nội lực quán xuyến những tác phẩm của ông. Trong cõi hỗn mang của Lịch sử, ông đòi được trọn vẹn cả phần xác lẫn phần hồn. Một con người tự do. Ðã 40 năm nay.

59 Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Minh Tân, Paris 1951.

Ngày ấy, tương lai Trần Ðức Thảo tưởng chừng rộng mở và sáng chói. Rốt cuộc, nó tối om, như tiền đồ của chị Dậu trong Tắt đèn. Là người triệt để mácxít, ông không tin có thể phủi đời mà hiểu được con người. Sự thấu hiểu thế giới chỉ chớm nở, hưng phấn thông qua hành động. Ông muốn trả giá, trả nợ đời để được tư duy thân phân con người cho tới cùng :

"Phần thứ nhì của Phénoménologie et matérialisme dialectique (1951) do đó đã dẫn tôi tới một ngõ cụt, và lúc đó tôi đã hy vọng tìm ra giải pháp trong cách mạng Việt Nam. Cuối sách, khi nói tới "vận động hiện thực của lịch sử", chính là bóng gió nói tới Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

cách mạng Việt Nam60".

60 Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

Trung thành với truyền thống sĩ phu, ông xếp bút nghiên, rời Pháp, về chiến khu Việt Nam. Con người tự do ấy đã tự biến mình thành chiến sĩ. Là nhà triết học, qua chiến đấu, ông sẽ khắc tự do của mình vào quá trình xây dựng nhân cách của nhân loại.

Người ta kể lại rằng Trần Ðức Thảo ước mơ thuyết giảng chủ nghĩa Mác cho các nhà lãnh đạo Ðảng. Nếu đúng vậy, quả là bé cái lầm. Họ xếp ông vào một xó để dịch tác phẩm của tổng bí thư Trường Chinh ra tiếng Pháp, nhân tiện để dạy ông chủ nghĩa Mác hiện thực của guồng máy Ðảng.

Chủ nhiệm Khoa sử Trường đại học tổng hợp, mà rồi Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn. Họ chặt đứt mọi liên hệ của ông với thế giới, họ cô lập ông ngay giữa đồng bào của mình. Ông vẫn nghiên cứu với những phương tiện trong tầm tay. Vẫn một nỗi ám ảnh khôn nguôi : làm sao, một ngày kia, liên hợp được những cỗi rễ vật chất, sinh vật, lịch sử, xã hội của con người với ý thức tự do của nó. Lâu lâu, giữa hai đợt bom Mỹ, ta vẳng nghe tiếng nói của Trần Ðức Thảo. Ðâu đó một bài nghiên cứu đăng trên một tạp chí. Ta biết ông còn sống, còn tư duy. Thế là đủ ! Chẳng có gì đáng tự hào, cũng chẳng có gì phải dằn vặt lương tâm. Còn biết bao việc khác, cấp bách, phải làm. Vả chăng, có điều luật văn minh nào kết tội sự thờ ơ trước một tư duy đang lâm nguy ?

Rồi tới lúc họ bán tống bán tháo chủ nghĩa cộng sản. Bán, bán hết. Hải sản, dầu mỏ, hồng ngọc, gỗ quý... đàn ông, đàn bà, trẻ con, từng container, từng chuyến charter, Ðông Tây Nam Bắc, đủ mười phương tám hướng... bán luôn cả linh hồn của Ðảng. Ông chẳng bao giờ có gì để bán. Chỉ còn một điều để cho : sự Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

đòi hỏi còn nguyên vẹn từ tuổi trẻ. Họ sử dụng ông một lần chót, để ông sang Paris gặp gỡ trí thức, bảo vệ cái lý tưởng mà họ đã hết tin tưởng. Biết đâu đấy. Lầm to, cái lầm tất yếu của mọi vương triều trong buổi suy tàn. Trên mảnh đất năm nào đã loé lên tư tưởng của mình, Trần Ðức Thảo đã tìm lại cỗi rễ của sự trưởng thành, hưng phấn của tuổi trẻ : "cái đà nội tâm của những năm chót thời tôi ở Pháp61" đã tái khởi động ngay từ những ngày đầu của Perestroika.

61 Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

62 Critique de la raison dialectique.

Tình cờ, tôi được gặp ông, vài tháng trước khi ông chết. Ông sống đơn độc trong một căn phòng bé tí, rệu rạo. Dán lững thững bò khắp nơi, trên tường, trên trần. Ðôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây như mắt trẻ con, không thấy chúng. Bạn bè bảo tôi rằng ông Thảo bây giờ lẩm cẩm rồi, sau bao nhiêu năm bị truy bức, tâm thần của ông đã bị nhị phân (schizophrénie). Song tôi đã gặp một con người minh mẫn.

Biết ông đã từng tranh luận với Sartre, tôi hỏi ông nghĩ sao về tác phẩm Phê phán lý trí biện chứng62. Ông nói : "Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt". Tôi lại hỏi ông về trước tác của ông, và nói thực là tôi thấy chúng máy móc. Ông khoát tay như muốn gạt chúng đi, và đưa cho tôi tác phẩm cuối cùng, còn dưới dạng bản nháp.

Ông nói đôi điều về cuộc sống của ông ở Paris. Mỗi ngày ông còn viết được một trang. Ông vẫn lạc quan, vẫn hy vọng, qua sự tiếp cận những khoa học mới, ông sẽ mở ra con đường mới. Ông chưa biết nhân loại mảnh mai lắm, ông chưa tưởng tượng được quá khứ có thể phủ dập tương lai. Bạn bè muốn giúp ông, ông thường từ khước. Ông quá sợ bị kết nạp vào các trường, các phái, các nhà thờ. Tôi hiểu ông đã lâm bệnh nặng. Căn bệnh của Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

 

ông có một cái tên : Tự do. Ông muốn vận dụng nó để làm gì ? Hãy nghe ông nói, một lần chót :

"... khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người63."

63 ... la conscience dans son appel à soiỞmême pose l'exigence du bien dans l'action, du vrai dans la connaissance, et du beau dans l'achèvement des processus vécus. Par là, la conscience fait du monde naturel un monde humain, valable pour l'homme. Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

Cái Chân trong tri thức ! Ông đã sống nhầm thời đại. Thời đại này chỉ hiểu hiệu quả trước mắt. Cái Thiện trong hành động ! Ông đã chọn nhầm thế giới. Thế giới này chỉ tuân theo lợi nhuận. Cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh ! Ông đã nhầm nhân loại. Nhân loại hôm nay chỉ ao ước cơm áo, giải trí và những hàng rào.

Không khuất phục được ông lúc sống, họ tìm cách quản lý cái chết của ông. Họ gắn một huân chương hạng hai lên quan tài của ông, để quay phim. Muộn quá rồi. Ông đã ra đi, mang theo hoài bão, chỉ để lại một sự đòi hỏi, cho những cuộc đời thầm lặng. Người chiến sĩ, người cộng sản, nhà tư tưởng không hề bỏ cuộc ấy đã ra đi. Sống như ông đã phải sống, có lẽ chỉ có thể chết như ông đã chết. Tôi hồi tưởng đôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây tựa mắt trẻ con. Và tôi tự nhủ, xét cho cùng, đời ông thật buồn mà thật đẹp, vì ông đã biết chết như chẳng mấy người biết sống, sống mà không hề biết bán mình. Trần Ðức Thảo là một nhà triết học chân chính.

Trần Đạo, 1993