Wednesday, 10 August 2016

Mot bai bao noi ve Cao Xuan Hao


 Mây bay

Mit thuong,
Ngay xua tren dien dan Viethoc, chu co dip thao luan voi mot vai nguoi ban ve Tieng Viet, han Viet, Chu Nom. Do dom hom nay co dip duoc biet them 1 hoc gia la Cao Xuan Hao, nen lay lam thich lam.
Bai nay, tac gia viet dang tren trang web trinh bay rat kho doc. Chu chep o day, de de doc va de tim, gioi thieu cho Mit nhe!
 

Hoài niệm về anh Cao Xuân Hạo
Nguyễn Quang Hồng
http://ngonngu.net/index.php?p=354

Tôi hay tin giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngay sau giờ phút anh lâm chung, qua điện thoại của một bạn trẻ. Đã từ mấy tháng nay, anh em trong giới ngữ học chúng tôi đều biết Giáo sư lâm bệnh nặng, tuổi cao sức kiệt, khó lòng qua khỏi. Nhưng vào giờ phút ấy, khi biết rằng trên đời này sẽ chẳng bao giờ còn có thể trò chuyện cùng Anh được nữa, lòng tôi bỗng trĩu nặng, ngậm ngùi…


Mãi đến năm 1965, tôi mới có dịp quen biết anh Cao Xuân Hạo. Khi ấy, tôi vừa chân ướt chân ráo từ Đại học Bắc Kinh trở về, đang lao vào tìm hiểu tiếng Việt, thì may mắn được làm quen với các thầy và các bậc đàn anh ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, tại khu sơ tán Đại Từ, Thái Nguyên. Nhưng lần đầu tiên tôi gặp anh Cao Xuân Hạo là tại Hà Nội, ngay nơi căn phòng Anh ở. Tôi biết khi ấy anh Cao Xuân Hạo đã thành danh, và đang sống những ngày khó khăn.

Anh đã dành trọn một buổi chiều (một buổi chiều mùa Thu như chiều Thu hôm nay) để giảng cho tôi nghe về lí thuyết âm tiết tiếng Việt của Anh. Nhìn vào đôi mắt chăm chú theo dõi của tôi, một đồng nghiệp trẻ mới toanh đang hăm hở cầu học, anh Hạo như thấy yên tâm để giải trình một cách chi tiết những ý tưởng của mình. Và quả thật là hấp dẫn, tất cả những gì mà anh “nung nấu” và dàn dựng là một lí thuyết hoàn toàn mới mẻ về ngữ âm tiếng Việt, mà trước đó tôi chưa từng được tiếp xúc.

Về sau, anh đã công bố một cách vắn tắt lí thuyết này trong bài “Le problème du phonème en vietnamien” (Vấn đề âm vị trong tiếng Việt) in trong tập Essais linguistiques – Études Vietnamiennes N.40, 1975. Cho mãi đến năm 1985 Anh mới có dịp công bố tại Paris toàn bộ lí thuyết ngữ âm của mình trong một tác phẩm chính Anh viết bằng tiếng Pháp Phonologie et linéarité (Âm vị học và tuyến tính), mà bản thảo sách này Anh đã viết xong vào năm 1979 (đến năm 2001 bản tiếng Việt mới được in ở Hà Nội). Trong công trình này, nhà ngữ học Cao Xuân Hạo đã thảo luận cặn kẽ về nhiều vấn đề cơ bản trong ngữ âm học và âm vị học đại cương, cũng như đề xuất một chủ thuyết mới cho việc phân tích và xác lập đơn vị ngữ âm cơ bản của tiếng Việt.

Để bạn đọc có thể phần nào lĩnh hội được lí thuyết về âm tiết tiếng Việt của Giáo sư Cao Xuân Hạo, tôi xin được trình bày đôi dòng sơ lược như sau.

Với ngữ âm tiếng Việt, các học giả thuở ban đầu (như M. B. Emeneau, Lê Văn Lí, v.v.) thường bê nguyên xi cách phân tích và xác lập hệ thống ngữ âm theo hệ “âm vị nguyên âm – âm vị phụ âm” trong âm vị học phương Tây, nghĩa là cũng như các ngôn ngữ châu Âu, hệ thống ngữ âm Việt sẽ phải gồm bao nhiêu âm vị phụ âm, bao nhiêu âm vị nguyên âm, phụ âm có thể đứng đầu hoặc đứng cuối từ (âm tiết), v.v.

Sau này khi tôi được sang Nga học, mới biết rằng cái cách miêu tả ấy từ những năm 30 của thế kỉ XX đã bị E.D. Polivanov nghi ngờ, và ông đề nghị một mô hình gồm 4 thành tố kế tiếp nhau để miểu tả âm tiết tiếng Hán (gần như đồng thời với Polivanov, Đường Vực ở Trung Quốc cũng hình dung âm tiết tối đa gồm có 4 thành tố như vậy). M.V. Gordina là người đầu tiên áp dụng mô hình đó cho tiếng Việt.

Ở Việt Nam, cách miêu tả ngữ âm tiếng Việt theo mô hình gồm 4 đối hệ “âm đầu – âm đệm – âm chính – âm cuối” như thế đã được trình bày một cách rất sáng sủa trong giáo trình của anh Đoàn Thiện Thuật. Điều khiến mọi người dễ “cảm tình” với mô hình này là ở chỗ nó phần nào thoát khỏi cái hình ảnh châu Âu về hệ nguyên âm và hệ phụ âm, đồng thời theo từng “đối hệ”, người ta có thể tìm mối liên hệ với chữ cái của chữ Quốc ngữ (lại chính là bộ chữ ABC có được từ sự phân tích ngữ âm châu Âu).

Bởi vậy, cho đến nay, và có lẽ còn về lâu về dài, mọi người vẫn dễ dàng chấp nhận nó để đưa vào dạy ở nhà trường, và nghĩ rằng đó chính là hình ảnh lí tưởng của ngữ âm tiếng Việt được mô tả một cách khoa học nhất đã được lựa chọn. Trong khi đó thì Cao Xuân Hạo, ngay từ những ngày cuộc chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra, đã bắt đầu trăn trở về một cách miêu tả ngữ âm tiếng Việt sao cho đúng với bản chất âm thanh và chức năng của nó.

Theo Anh, âm tiết tiếng Việt là một chỉnh thể mà về mặt chất liệu âm thanh cũng như về mặt chức năng không có một căn cứ gì để có thế “cắt khúc” nó ra thành 4 thành tố kế tiếp như vậy. Cũng như trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngữ âm cơ bản tối thiểu không chịu sự chia cắt ra thành những cái gì “ngắn” hơn được nữa. Và do đó, không làm gì có được những âm vị mang tính “khúc đoạn” ở đây, và Anh đề xuất quan điểm “phi đoạn về âm vị và cấu trúc âm tiết Việt Nam”.

Theo Anh, “trong tiếng Việt, người bản ngữ nghe các âm tố như những quá trình âm vị học động, kết quả của những động tác cấu âm, nghĩa là nghe âm tiết đúng như thực trạng của nó. Trong các thứ tiếng châu Âu, do nhu cầu phân biệt trật tự của các âm tố ở bên trong âm tiết, các âm tố được tri giác như những trạng thái tĩnh”.
Quan điểm của anh mới lạ và gây sửng sốt cho nhiều người, trong nước thì đã đành, ở nước ngoài cũng vậy. Đến nỗi, có một vị từ một nước Đông Âu đến Thành phố Hồ Chí Minh dự một cuộc hội thảo, sau khi biết qua quan điểm “âm vị phi đoạn” của anh Cao Xuân Hạo, liền hỏi nhỏ người ngồi bên cạnh: “Ông Hạo đã học qua giáo trình nào về âm vị học chưa?”(!).

Thực ra, giá như vị này có biết chút ít về D.E. Polivanov (Nga) hay Ch.F. Hockett (Mĩ) thì sẽ có thể bình tĩnh hơn, vì từ những tác giả như thế, ta đã thấy một dự báo về khả năng không chia cắt âm tiết tiếng Hán ra thành các âm vị “đoạn tính” là nguyên âm hay phụ âm như trong các ngôn ngữ châu Âu. Kể ra, nếu như bên trời Nam chúng ta có Cao Xuân Hạo một mình gây dựng bếp núc cho một lí thuyết “âm vị học phi đoạn” (tức là “phi tuyến tính”) vào những thập niên 60, thì cũng trong khoảng thời gian ấy, ở bên trời Tây cũng xuất hiện một vài tác giả nói đến “âm vị học phi tuyến tính” (như Prince Mc-Carthy, Selkirt, v.v.).

Bản thân tôi chỉ vừa mới biết chuyện này gần đây qua một vài tài liệu gián tiếp từ các học giả Trung Quốc, mà bên Trung Quốc người ta cũng chỉ mới biết đến Prince Mc-Carthy, Selkirt vào khoảng những năm 80 của thế kỉ XX. Trong công trình của Cao Xuân Hạo không thấy tên những tác giả phương Tây này. Như vậy, hiển nhiên là lí thuyết “âm vị phi đoạn” của Cao Xuân Hạo được hình thành một cách độc lập trên tư liệu các ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính mà tiêu biểu là tiếng Việt, chứ không hề được gợi ý từ các tác giả của thuyết “âm vị học phi tuyến tính” bên Tây vốn bắt nguồn từ tư liệu các ngôn ngữ vùng Trung Đông.

Bây giờ, nếu ai chịu khó đọc qua tác phẩm Âm vị học và tuyến tính của Anh, sẽ vô cùng kinh ngạc về vốn tri thức sâu rộng của tác giả, không chỉ về những vấn đề cơ bản của lí thuyết ngôn ngữ, lí thuyết ngữ âm, thực nghiệm ngữ âm mà cả về đặc điểm loại hình của hàng loạt các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Hãy nhường lời đánh giá công trình của Anh cho các học giả danh tiếng ở Pháp.

Không phải chờ đến tác phẩm đồ sộ Âm vị học và tuyến tính, mà ngay sau khi đọc bài “Vấn đề âm vị trong tiếng Việt” nói ở trên, nhà ngữ học J.P. Chambon đã nêu bật những “hệ quả trọng đại” đối với ngôn ngữ học mà bài báo có nhan đề khiêm tốn kia đã dẫn tới:

Một là, “nhà ngữ học Việt Nam đã nhắc đúng lúc cho ta nhớ rằng trong ngôn ngữ học, chủ nghĩa duy vật rất xa với chủ nghĩa chất liệu”.

Hai là, “âm vị học cổ điển” thoát thai từ các ngôn ngữ châu Âu “nay đã bị bắt quả tang về tội dĩ Âu vi trung và buộc phải từ bỏ mọi tham vọng tự cho mình là có giá trị phổ quát”.

Ba là, “các nhà âm vị học hiện đại chẳng qua là những người thợ chuyên làm chữ viết ABC cho tất cả các ngôn ngữ của nhân loại”.

Bốn là, [...], v.v. Sau khi công trình dày dặn của Cao Xuân Hạo được in ra tại Paris, liền có bài của hai nhà ngữ học Pháp A.G. Haudricourt và C. Hagège, nhận xét rằng một trong những điều có thể tiếp thu được qua cuốn sách này là “phải chi những người bản ngữ của các thứ tiếng đơn âm tiết xây dựng nên nền âm vị học hiện đại, thì họ chắc chắn sẽ lấy âm tiết làm đơn vị cơ bản, chứ không phải âm vị”.

G.S. Nathan viết trên tạp chí Language rằng có lẽ thú vị hơn cả là “cách phân loại hình ngôn ngữ của Cao theo tiêu chuẩn kích thước của âm vị là những nhân tố mà ông lấy làm cơ sở đầu tiên để nêu rõ sự dị biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ. Cái ưu thế mà chữ viết ABC có được ở phương Tây không phải chỉ đơn thuần là do một chủ nghĩa đế quốc văn hoá, mà chính là kết quả của những đặc trưng làm thành bản chất của hai loại hình ngôn ngữ hữu quan”.

Có thể không phải mọi điều trong lí thuyết của Cao Xuân Hạo đều đã thuyết phục được hết các nhà ngữ học trong nước và quốc tế, song với những ghi nhận như trên cũng đủ cho thấy giá trị nhận thức luận và phương pháp luận rất sâu sắc trong công trình về ngữ âm của Anh. Từ Việt Nam, Anh đã cất lên một tiếng nói đầy ấn tượng giữa biển cả bao la những công trình về ngôn ngữ học trên thế giới. Chúng ta tự hào vì có được một tiếng nói như vậy trên diễn đàn ngôn ngữ học quốc tế.

Có nhiều người hiểu lầm “không phân đoạn” là “không phân lập”, vì vậy mà cũng không thật sự hiểu lí thuyết của anh Hạo. Cao Xuân Hạo chỉ nói “không phân đoạn” đối với âm tiết tiếng Việt, chứ chưa bao giờ nói “không phân lập”, bởi vì làm gì có thứ âm vị học mà “không phân lập”. Các thành tố ngữ âm trong âm tiết, dù phân đoạn (như trong các ngôn ngữ châu Âu) hay không phân đoạn (như trong các ngôn ngữ Việt, Hán) đều được phân lập trong quá trình tri nhận âm tiết (dù là tri nhận tĩnh hay tri nhận động).

Anh Hạo viết trong sách của mình: “Tính không kế tiếp, hay tính không quan yếu của trật tự trước sau của một tổ hợp đơn vị ngôn ngữ học không có nghĩa là các đơn vị ấy không phân lập. Chừng nào ta có thể phân tích một đơn vị của ngôn ngữ hay của lời nói thành những thành tố của nó, những thành tố ấy tất phải phân lập”.

Như vậy hoàn toàn có thể nói đến “phân lập đoạn tính” và “phân lập phi đoạn tính” trong âm tiết. Với anh Cao Xuân Hạo thì trong âm tiết tiếng Việt không có chuyện “phân lập đoạn tính” (không thể “cắt khúc” âm tiết ra được), mà chỉ có thể là “phân lập phi đoạn tính” thôi. Thanh điệu cũng như các âm tố nguyên âm hay phụ âm trong âm tiết đều là “phi đoạn” (tức là phi tuyến tính) như nhau hết. Anh Hạo đã hoàn toàn nhất quán trong cách tiếp cận của mình, và trong khoa học, đẩy lí thuyết đi đến tận cùng tuyệt nhiên không phải là một thái độ “cực đoan” buộc phải né tránh.

Chính đây là chỗ anh Hạo khác biệt một cách triệt để với tất cả các tác giả khác còn lại khi nói về âm tiết tiếng Việt. Sau này, khi tôi chứng minh rằng cái gọi là “âm đệm” thực ra không hề chiếm vị trí thứ hai trong sơ đồ 4 thành tố kế tiếp, cũng không phụ thuộc hẳn vào “âm đầu” hay “vần cái” (tính chất “nước đôi” này của “âm đệm” phần nào đã được M.V. Gordina nói tới), mà phải dứt khoát coi nó là đặc trưng chung của toàn bộ âm tiết, như là thanh điệu, và phân lập với tất cả các yếu tố còn lại, thì có người nhăn mũi bảo là “kì quặc”.

Còn anh Hạo thì nhiệt liệt hoan nghênh, cho là một bước đột phá quan trọng trong cách nhìn nhận các thành tố trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt. Có điều, tôi vẫn nói đến khả năng phân lập đoạn tính ít nhiều có thể thấy được giữa hai thành tố “âm đầu” và “vần cái” luôn được định vị “trước – sau” (do đó không đối lập nhau về trật tự tuyến tính) kế tiếp nhau trong lòng âm tiết tiếng Việt (cũng như tiếng Hán). Anh Hạo thắc mắc tại sao tôi lại còn nói đến “đoạn tính” của “âm đầu” và “vần cái” làm gì nữa, mà không coi tất cả đều là “phi đoạn” có phải nhất quán hơn không.


Theo Anh (và phù hợp với kiến giải của nhà ngữ học Hoa Kì G. Gleason), cái ấn tượng về “đoạn tính” sở dĩ có được là dựa vào khả năng chuyển đổi vị trí trước sau giữa các đơn vị ngữ âm, nghĩa là các đơn vị này có tham gia vào sự đối lập về trật tự (như act so với cat trong tiếng Anh). Tôi nghĩ, cái căn cứ phân đoạn của anh Hạo cũng như của G. Gleason đưa ra là hoàn toàn đúng, song không phải là duy nhất. Tôi không thể làm ngơ trước một thực tế hiển nhiên là người bản ngữ tiếng Việt cũng như tiếng Hán đã tạo ra không ít các từ láy âm và các loại ngôn từ đặc biệt như nói lái trong tiếng Việt hay phản ngữ trong tiếng Hán chẳng hạn (với sự chuyển đổi “âm đầu” và “vần cái” trong một tổ hợp song tiết).

Không phải ngẫu nhiên mà âm vận học truyền thống Trung Hoa, thực chất là lí thuyết âm vị học về âm tiết được xây dựng (trước khi có sự can thiệp của âm vị học cổ điển châu Âu) trên tư liệu Hán ngữ vốn cùng loại hình với Việt ngữ, từ lâu vẫn ghi nhận sự phân lập cái trước cái sau giữa “thanh mẫu” (âm đầu) và “vận mẫu” (vần cái), song lại không ghi nhận điều đó đối với thanh điệu và cả “âm đệm”.

Tuy nhiên, nếu thừa nhận khả năng “phân lập đoạn tính” giữa âm đầu và vần cái theo những cứ liệu đó, thì điều này cũng không làm sứt mẻ gì quan niệm “phi tuyến tính” của anh Hạo đối với tất cả các thành tố trong âm tiết tiếng Việt. Bởi vì, phân lập đoạn tính của âm đầu và vần cái chỉ có ý nghĩa khi ta nói đến chức năng “tạo lập tín hiệu ngôn ngữ” (đối với tiếng Việt là ngữ tố đơn tiết) của các đơn vị ngữ âm, còn nếu chỉ quan tâm đến chức năng “khu biệt tín hiệu ngôn ngữ” thì với âm tiết tiếng Việt không đòi hỏi phải phân lập đoạn tính, như chúng tôi đã có dịp chứng minh.

Có lẽ vì vậy mà mặc dù coi âm tiết tiếng Việt là một chỉnh thể “không cắt khúc” được, anh Hạo vẫn có quyền tách hẳn phần “vận mẫu” của âm tiết ra để nghiên cứu riêng, và cũng từ đây anh là người đầu tiên gọi đúng tên về sự đối lập “dài”/ngắn” của nguyên âm đỉnh vần: Đây không phải chỉ là chuyện giữa các âm đỉnh vần với nhau, mà là chuyện chung giữa các vần có “tiếp hợp chặt” và các vần có “tiếp hợp lỏng” với nhau.

Tôi hoàn toàn đồng tình với cách giải thuyết này của anh Hạo, và ứng dụng chúng trong các công trình nghiên cứu của mình về hệ thống vần cái tiếng Việt (tiếng Việt toàn dân và cả tiếng Việt địa phương). Bao trùm lên tất cả ở chúng tôi là một tinh thần chung cùng nhau tìm cách miêu tả ngôn ngữ “từ bên trong bản thân nó” (như Baudouin de Courtenay đã nhắc nhở từ đầu thế kỉ XX), cố gắng thoát ra khỏi những giáo điều có sẵn từ bên ngoài, từ cách miêu tả vốn chỉ thích hợp với các ngôn ngữ biến hình ở phương Tây, nhưng lại là một sự áp đặt thô bạo đối với các ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt.

Trên tinh thần này, ở chừng mực nào đó, chúng tôi cũng tìm thấy tiếng nói chung với một số nhà ngữ học khác, như anh Đoàn Thiện Thuật chẳng hạn. Tất cả chúng tôi đều không ai dại gì mà bỏ qua âm tiết để đi thẳng đến các âm vị nguyên âm và phụ âm như trong âm vị học châu Âu. Bản thân tôi đồng cảm sâu sắc với anh Cao Xuân Hạo, cũng tức là thấm thía với nhận định của GS Vương Lực, nhà ngôn ngữ học kiệt xuất của Trung Quốc, rằng: “Bây giờ chúng ta ngày nào cũng nói đến đặc điểm của tiếng Hán, nhưng ngày nào cũng vẫn chỉ quẩn quanh trong cái vòng vây của của ngữ pháp Âu Tây. Cần phải thoát ra khỏi bàn tay của Phật Như Lai, rồi sau mới mong khỏi bị đè bẹp dưới núi Ngũ Hành Sơn” (Tạp chí Trung Quốc ngữ văn, 1956).

Cũng chính trên tinh thần đó, nhà ngữ học và nhà giáo Cao Xuân Hạo bước vào lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Và ở trận địa này, Anh lại tiếp tục “chiến đấu” với những giáo điều sẵn có từ Âu Tây mang đến. Lí thuyết âm tiết không phân đoạn của Cao Xuân Hạo dẫu sao vẫn nặng về học thuật trong lĩnh vực ngữ âm – âm vị học, ít người hỏi đến, và hiện vẫn chưa tìm thấy sự ứng dụng nó vào thực tiễn cuộc sống, mặc dù theo tôi nghĩ, nó sẽ là chỗ dựa tốt nhất cho công việc phân tích và tổng hợp lời nói tiếng Việt, một công việc thiết yếu trong khoa học hình sự.

Trong khi đó thì ngữ pháp lại là câu chuyện mà bất cứ ai từng cắp sách đến trường đều phải biết tới, và từ lâu họ đã cùng nhau đúc kết và lưu truyền một câu tục ngữ xứng đáng: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Những “cơn bão” đầu tiền dồn dập đến chưa phải là nhằm vào cú pháp tiếng Việt, mà nhằm vào từ pháp tiếng Việt. Tiếp theo sau GS Nguyễn Tài Cẩn, anh Cao Xuân Hạo là người hăng hái bảo vệ “cương vị ngôn ngữ học của tiếng trong tiếng Việt”. Nếu như trong các thứ tiếng châu Âu, âm tiết chỉ là đơn vị phát âm và hầu như không đóng vai trò gì trong hệ thống ngôn ngữ, thì trong các ngôn ngữ như tiếng Việt, âm tiết là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ trên tất cả các tầng bậc cấu trúc. Đây là một cách nhìn tất yếu phải được ủng hộ, theo nguyên tắc chung “miêu tả ngôn ngữ từ bên trong bản thân nó”, và cách nhìn này cũng phù hợp với truyền thống ngữ văn học Trung Hoa và Việt Nam. Vậy mà nó vẫn chịu đựng không ít bão táp từ phía những ai quen sử dụng bộ máy khái niệm của ngôn ngữ học Âu Tây mà tưởng rằng đó là bộ máy phổ quát, là những tín điều “đại cương” cần phải triệt để tuân thủ. Ở Việt Nam như thế mà ở Trung Quốc cũng vậy.

Trong lĩnh vực cú pháp, nếu như các tiếng châu Âu khá thích hợp với cách phân tích câu theo sơ đồ “Chủ ngữ - Vị ngữ”, thì phần lớn các câu rất tự nhiên trong tiếng Việt như Chó treo, mèo đậy lại kiên quyết từ chối cách phân tích này. Anh Hạo giải thích rằng câu trong các ngôn ngữ như tiếng Việt có một cấu trúc khác hẳn: nó gồm hai phần, trong đó phần thứ nhất nêu lên một cái Đề (đề tài) còn phần thứ hai nói một điều gì đấy liên quan đến cái đề ấy, gọi là phần Thuyết.

Đề có thể bất cứ là đóng vai gì, bất cứ có quan hệ gì với Thuyết, miễn sao thành một nhận định có ý nghĩa, có nội dung thông báo nào đấy, cho nên các kiểu câu trong các thứ tiếng như tiếng Việt đa dạng gấp mấy mươi lần các kiểu câu của tiếng châu Âu. Với cách phân tích Đề - Thuyết như vậy, hầu hết những câu mà ngữ pháp “Chủ - Vị” không kham nổi, người ta đành liệt chúng vào hạng “bất bình thường” (khốn nỗi những câu “cứng đầu” như thế lại chiếm một phân lượng quá lớn trong tiếng Việt!), trong ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo đều trở nên hết sức bình thường.

Cội nguồn của ngữ pháp “Đề - Thuyết” (tức là “ngữ pháp chức năng”) đã có từ trường phái ngữ học Praha. Song những phản ứng lại với ngữ pháp châu Âu thì từ lâu trước đó đã có trong tác phẩm của các nhà Đông phương học Nga (như A. D. Polivanov và A. A. Dragunov) với lí thuyết “âm tiết - hình vị” (slogomorphema) mà người kế thừa xuất sắc và phát triển nó trên ngữ liệu tiếng Việt là GS Nguyễn Tài Cẩn.

Như vậy, so với ngữ âm thì ở lĩnh vực ngữ pháp các nhà ngữ học châu Âu có vẻ ít chủ quan hơn và sự “phản tỉnh” của họ có phần kịp thời hơn, để có thể sớm đưa ra lí thuyết về ngữ pháp chức năng, một lí thuyết ngữ pháp có nhiều khả năng thích dụng cho các ngôn ngữ thuộc nhiều loại hình khác nhau. Nếu tôi không nhầm thì ở Việt Nam, người đầu tiên gặt hái thành quả đáng kể trong việc ứng dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng vào tiếng Việt, chính là GS Cao Xuân Hạo với cuốn Tiếng Việt. Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991).

Cuốn sách được in ra, ngay lập tức thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc trong học giới và giáo giới, và không chỉ một lần, người ta tụ họp nhau để “hội thảo” về những gì mới mẻ được đề cập đến trong cuốn sách này. Vượt lên trên tất cả những ý kiến ngược xuôi khác nhau, một điều không thể phủ nhận được là cuốn ngữ pháp của anh Hạo thực sự mang đến một bầu không khí mới cho ngữ pháp tiếng Việt, mà xuất phát điểm vẫn là cái tinh thần vốn thường trực ở Anh: cố gắng thoát ra khỏi những bế tắc do rập khuôn ngữ pháp Âu Tây đưa lại, tiến tới nhìn nhận tiếng Việt sao cho sát đúng hơn với bản thể và linh hồn của nó. Theo sự theo dõi của tôi thì gần đây ở Trung Quốc người ta cũng đã thực sự quan tâm đến ngữ pháp chức năng, cũng tức là thứ ngữ pháp không dựa vào những dấu hiệu hình thức, mà đi sâu vào các mối quan hệ ngữ nghĩa trong câu nói.

Tôi thật sự vui mừng là anh Hạo đã đi vào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và đã đạt tới kết quả đáng kể như vậy. Tự anh đã ý thức được và xác định được con đường khoa học để dấn thân. Tôi vẫn nhớ là năm 1985, khi tôi đến chào từ giã GS Yu.V. Rozhdestvensky, thầy cố vấn khoa học của tôi ở Moskva, ông khuyên tôi là sau ngữ âm, nên đi sâu vào ngữ pháp tiếng Việt, vì ở đó thể hiện rõ nhất linh hồn và tư duy dân tộc. Song duyên phận của cuộc đời và cũng do sở học của mình, đã dẫn dắt tôi sang lĩnh vực ngữ văn Hán Nôm, chủ yếu đi sâu nghiên cứu về chữ Nôm, và ở đây tuy không có gì đáng gọi là bão táp, nhưng cũng có ít nhiều sóng gió, đủ để thử thách bản lĩnh con người, và cũng đủ đất cho những ai muốn tìm về bản sắc dân tộc Việt Nam.

Cùng với hai công trình vạm vỡ kể trên về ngữ âm và ngữ pháp, Cao Xuân Hạo còn viết một loạt các bài nghiên cứu khác, hầu hết được tập hợp in lại trong cuốn Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa (1998). Đây là những vấn đề cụ thể, anh viết ra để tiếp tục thảo luận và trình bày những khía cạnh của lí luận cũng như của thực tế ngữ liệu tiếng Việt. Qua đây, ta càng thấy học vấn uyên bác và tầm nhìn sâu rộng của Anh về nhiều lĩnh vực ngôn ngữ học trong nước và thế giới.

Anh Hạo cũng đầy nhiệt huyết trong việc truyền thụ những kiến thức hữu ích vào bộ môn Ngữ văn và Tiếng Việt trong nhà trường, tập trung thể hiện qua các tập sách do Anh chủ trì và viết chung với các nhà giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đông đảo độc giả không chuyên ngôn ngữ học cũng biết đến Cao Xuân Hạo qua giọng văn đầy chất trí tuệ, lại thường pha chút châm biếm mỉa mai và hài hước dí dỏm, trong nhiều bài Anh viết trên các báo, mà hầu hết đã kịp in lại trong tập Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt (2001).

Đương nhiên, làm khoa học không phải là làm văn, song khi cần đến với đông đảo công chúng, thì “chất xám” cũng phải được “phủ xanh” it nhiều thì mới dễ coi. Có lẽ không phải học giả nào cũng có tài “phủ xanh” lên “chất xám” của mình như Cao Xuân Hạo. Trước khi đến với mọi người với tư cách học giả, Cao Xuân Hạo từ lâu đã là một dịch giả được công chúng yêu mến qua những bản dịch các tác phẩm văn học Nga và văn học Pháp. Anh đã dịch bằng một thứ tiếng Việt mà Anh thực sự nắm được linh hồn của nó. Anh Hạo là người đa tài, mà tài nào cũng thực là tài.

Nói đến tiếng Nga, không phải chỉ lũ chúng tôi, những người Việt “ăn bánh mì đến mòn răng” từ Nga về, bái phục Anh sát đất, mà chính những người Nga cũng thán phục khả năng nói tiếng Nga lưu loát của Anh, ngay cả khi họ chưa hề biết rằng Anh chỉ tự học tiếng Nga qua Đài Tiếng nói Việt Nam. GS V. M. Sonlcev mỗi lần sang làm việc với Viện Ngôn ngữ học, đều hầu như chỉ yêu cầu anh Hạo dịch giùm. Và bao giờ GS V.M. Sonlcev cũng giúi vào tay Anh mấy bao thuốc lá, là thứ mà Anh nghiện, để làm quà. Tiếng Pháp tiếng Anh (và cả tiếng Latinh) thì chẳng phải nói, Anh đã thông thạo từ thời niên thiếu. Như ta đã biết, chính Anh đã viết trực tiếp bằng tiếng Pháp tác phẩm của mình.

Riêng tôi rất cảm ơn Anh vì đã có lần được Anh dịch giúp cho một bài nghiên cứu của tôi về các ngữ tố cùng gốc giữa tiếng Việt và tiếng Choang sang tiếng Anh. Còn chữ Nho thì chắc hẳn Anh cũng chẳng chịu bỏ qua, khi thân sinh Anh là GS Cao Xuân Huy, nhà Hán học và triết gia lỗi lạc của nước ta, là người luôn theo dõi con đường học thuật của Anh. Tôi không dám chắc là anh Hạo có nói được tiếng Trung Quốc hay không, nhưng qua những gì mà anh viết có đả động đến tiếng Hán chữ Hán, tôi có thể biết chắc Anh rất am tường về lịch sử tiếng Hán cũng như về đặc trưng của tiếng Hán và chữ Hán, một vốn tri thức Hán học rất đáng nể mà chưa chắc ai cũng dễ dàng có được.

Trước khi tôi ngồi viết những dòng này với nỗi hoài niệm về một người anh lớn trong học giới đã mãi mãi ra đi, bạn tôi bên văn học là anh Trần Đình Sử có gọi điện chia sẻ cùng tôi về nỗi hoài niệm tiếc thương này. Anh Sử bỗng nhắc tới hồi còn là một thiếu sinh ở miền Trung, trong kháng chiến chống Pháp và cả khi hoà bình mới lập lại, anh và các bạn anh vẫn thường hát một bài ca khá phổ biến trong giới học sinh thời bấy giờ mà giai điệu và lời ca chứa chan niềm tin vào Cách mạng, vào nền Dân chủ Cộng hoà của chúng ta. Tác giả khúc ca đầy nhiệt huyết đó là anh Cao Xuân Hạo.

Được biết Anh còn sáng tác một số ca khúc trữ tình khác nữa. Và cả những lời ca Anh dịch cho nhiều bài hát Nga nổi tiếng từ lâu đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt Nam, mà hôm nay đây vẫn còn vang vọng trong mỗi chúng ta, đẹp đẽ và dịu dàng: “Miền đồng quê phì nhiêu… Có nhiều cô đẹp như tiếng ca ban chiều”. Song có lẽ cái tầm vóc cao lớn của Anh trong tư cách là một học giả uyên bác và có chủ thuyết, là một dịch giả văn học tài ba nữa, đã che khuất đi ở anh một con người nghệ sĩ yêu đời ở tuổi thanh niên sôi nổi.

Anh đã ra đi thanh thản, nhẹ nhàng, sau khi đã kịp để lại cho chúng ta trên cõi đời này một tài sản tinh thần vô giá, đó là tất cả trí tuệ và tấm lòng của Anh dành cho tiếng Việt, chữ Việt và văn Việt, dành cho con người và đất nước Việt Nam.

Hà Nội, cuối Thu, ngày 30-10-2007

Tuesday, 9 August 2016

tim hieu so khoi ve Cao Xuan Hao, nha ngon ngu hoc tieng Viet



1

"Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ ở tỉnh Quảng Nam".

2.

Phonologie

3.
Die Phonologie (von altgriechisch φωνή phōnḗ, „Laut, Ton, Stimme, Sprache“ und λόγος, lógos, „Lehre“) ist ein Teilgebiet der Sprachwissenschaft, im Speziellen der theoretischen Linguistik, und stellt zusammen mit der Phonetik die Lautlehre dar. Während die Phonetik die eher konkreten Eigenschaften der Sprachlaute untersucht – ihre akustische Beschaffenheit, Artikulation und Wahrnehmung – betrachtet die Phonologie die Laute in abstrakterer Weise: Sie beschäftigt sich mit der Funktion der Laute für das Sprachsystem der einzelnen Sprachen und stellt somit einen Teilbereich der Grammatik dar.

4.
 Âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh được sử dụng nhằm truyền tải ý nghĩa trong bất cứ một ngôn ngữ nói nào của con người. Một ngôn ngữ bên cạnh cú pháp và từ vựng, còn có hệ thống âm vị tác động đến thính giác. Khác với ngữ âm học nghiên cứu cách tạo ra, truyền tải và nhận thức âm thanh một cách vật lý, âm vị học nghiên cứu chức năng hoặc cách ký hiệu âm thanh trong một ngôn ngữ nhất định. Thuật ngữ "âm vị học" được dùng trong ngôn ngữ học thế kỷ 20 có thể bao gồm cả âm vị học và ngữ âm học.

5
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_Xu%C3%A2n_H%E1%BA%A1o

6
 https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%82m_v%E1%BB%8B_h%E1%BB%8Dc

7
https://www.google.de/search?q=CAO+XU%C3%82N+H%E1%BA%A0O&ie=utf-8&oe=utf-8&client=firefox-b-ab&gfe_rd=cr&ei=10eqV8f_Lcvj8wen7bjwCg

May bay, bay mai doi xa



Ngắm Mây bay giùm Ngộ, iso 200, 2500, F7.1, Bewolkter

Dem tinh mich

Munchen, Nacht


Đêm

Đêm qua trời nhiều sao,
Đêm nay cũng là đêm,
Nhưng không thấy sao nào.
Đêm nào được gặp nàng,
Đêm nay không thấy ai,
Đêm này khác đêm qua!


ĐN
lòng thấy vui hơn

--

Nacht

Gestern Nacht, auf dem Himmel gab es viele Sterne,
Heutige Nacht ist auch eine Nacht.
Aber auf dem Himmel gibt es keine Sterne mehr!
An einer Nacht traf ich Ihr,
Heutige Nacht sehe ich sie nicht mehr,
So ist es, jede Nacht ist anders!




 

昨晚,在天上有很多星星,
今天晚上一晚
但在天空中有沒有更多的明星,
一天晚上,我遇見了你,
今天晚上,我再也看不到他們,
這是正確的,每天晚上是不同的!



Dạ

Dạ tạc vãn, tại thiên thượng hữu ngận đa tinh tinh ,
Kim thiên vãn thượng nhất vãn
Đãn tại thiên không trung hữu một hữu canh đa đích minh tinh ,
Tại nhất thiên vãn thượng,ngã ngộ kiến liễu nhĩ ,
Kim thiên vãn thượng,ngã tái dã khán bất đáo tha môn ,
Giá thị chánh xác đích,mỗi thiên vãn thượng thị bất đồng đích!

ĐN
chong đèn chuyen ngữ

Hoc gia An-Chi tra loi: la nuoc la cai la gi?

Hoc gia An-Chi

 
Mit thuong, 

that la thu vi, hom nay Chu doc duoc mot bai noi ve vai tu ngu Latin, va do do duoc biet them mot nguoi am tuong chu nghia: hoc gia An-Chi. Chu gioi thieu voi chau bai nay ne:


Bạn đọc:

Xin ông cho biết, “lạ nước lạ cái” có nghĩa là gì và đâu là từ nguyên của “nước” và “cái” trong câu này? Có người đã gắn nó với thức ăn; lại có người gắn nó vào cuộc đỏ đen nên tôi phân vân? Xin cảm ơn ông. Nguyễn Hồng Phúc (TP Vũng Tàu)


Học giả An Chi: 

Có ý kiến cho rằng, "lạ nước lạ cái" là một thành ngữ dùng để chỉ phản ứng của cá nhân trước một món ăn lạ mắt, lạ miệng. "Nước" thì đương nhiên là phần chất lỏng của canh còn "cái" là phần nguyên liệu dùng để nấu canh mà tinh chất đã được "chiết xuất" khi đun nấu, nên thường được quan niệm là không còn nguyên chất bổ, chất béo vì những chất này đã được hòa tan vào nước canh. Vì thế mà có câu thành ngữ dùng để nói đùa là "Khôn ăn cái, dại ăn nước". Nhưng câu tục ngữ "ngược" này thì nói về chuyện ăn uống chứ câu "lạ nước lạ cái" lại không nói về chuyện ăn uống.

Cách hiểu thứ hai có thể có thì lại gắn câu "lạ nước lạ cái" vào trò đỏ đen. "Nước" là cách đoán bài, đi bài, nói tóm lại là cách chơi nơi đổ trường còn "cái" là "sếp sòng" dĩ nhiên là sòng bài, mà dân gian thường gọi là "nhà cái". Vậy theo cách hiểu thứ hai thì câu thành ngữ đang xét dùng để nói lên sự dè dặt, sự thận trọng của con bạc mới, và vì "chưa quen với môi trường" nên chưa tính được đường đi, nước bước ra sao. Thì cũng chỉ là suy luận cho có vẻ cầu kỳ chứ theo cách hiểu quen thuộc - mà hoàn toàn chính xác - thì "lạ nước lạ cái" chẳng qua là "lạ nơi, lạ chốn". Hầu như tất cả các quyển từ điển quen thuộc đều giảng như thế. Xin dẫn một đại diện đáng tin cậy là Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên: "Bỡ ngỡ, chưa quen trước cảnh lạ, người lạ, vì vừa mới đến".

Cứ như trên thì "nước" là một từ chỉ một vùng đất nhất định. Đây là nghĩa gốc xa xưa còn nghĩa của nó trong tiếng Việt hiện đại thì được từ điển Vietlex giảng là "vùng đất trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị - xã hội và cùng thuộc về một nhà nước nhất định". Dĩ nhiên là ở đây, ta không thể câu nệ được. Chữ "bang" [邦], chẳng hạn, thường được dịch là "nước"; nhưng "nước" Mỹ có đến 50 bang thì sao? Đây là nói về nghĩa. Còn về từ nguyên thì "nước" là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ [略] mà âm Hán Việt hiện hành là "lược".

Về mối quan hệ "L ↔ N" giữa "lược" và "nước" thì ta còn có thể dẫn chứng bằng nhiều trường hợp tương tự:

- "lãm" [攬] là nắm ↔ "nắm" trong "nắm bắt";

- "loại" [類] là giống, loài ↔ "nòi" trong "nòi giống";

- "loan" [巒] là núi nhỏ mà nhọn ↔ "non" trong "núi non";

- "lôi < lồi" [畾] là vùng đất ruộng ↔ "nội" trong "đồng nội";

- "lỗn" ("noãn" [卵] trên, "tâm" [心] dưới) là mập, bự ↔ "nộn" trong "phì nộn";

- "long" (trái "hoả" [火], phải "long" [龍]) là đốt ↔ "nung" trong "nung nấu";

"lũng" [壟] là gò đất cao ↔ "nỗng" trong "gò nỗng"; v.v.. Trở lên là nói về mặt ngữ âm. Về nghĩa thì chữ "lược" [略] có một cái nghĩa quan trọng mà Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) đã cho súc tích như sau: "cương giới" [彊界], nghĩa là bờ cõi đất đai. Còn Hán Việt tự điển của Thiều Chửu thì đối dịch chỉ bằng một chữ là "cõi". Xét về từ nguyên thì cái nghĩa này hoàn toàn ăn khớp với nghĩa xa xưa của từ "nước" mà chúng tôi đã nêu ở trên. Nhân tiện cũng xin nói thêm rằng chữ "nước" của giới đỏ đen cũng do chữ "lược" [略] này mà ra. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là "Mưu kế. Trí". Việt Hán thông thoại tự vị của Đỗ Văn Đáp giảng là "Mẹo". Còn Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng thì giảng là "sự tính toán sắp đặt". Với những cái nghĩa trên đây thì, về mặt từ nguyên, ta thật khó lòng phủ nhận sự liên quan ngữ nghĩa giữa "lược" và "nước" trong "nước bài", "nước cờ", v.v… Thế là ta có hai đẳng thức:

- "lược" [= cõi, bờ cõi đất đai] ↔ "nước" [= một vùng đất nhất định] (1);

- "lược" [= mưu kế; mẹo; sự tính toán sắp đặt] ↔ "nước" [trong "nước bài", "nước cờ", v.v…] (2).

Hai đẳng thức này là hai trường hợp đồng dạng từ nguyên học (khác nghĩa nhưng tương quan ngữ âm như nhau) - mà thỉnh thoảng chúng tôi có nói đến - và với hai trường hợp đồng dạng như thế này thì mối liên quan từ nguyên giữa hai vế trong mỗi đẳng thức là điều chắc chắn.

Tóm lại, trong "lạ nước lạ cái" thì "nước" không phải là H2O, mà cũng chẳng phải là sự lựa chọn cách đi cờ, đánh bài, v.v... trong trò đỏ đen. Ở đây, nước là "một vùng đất nhất định. Nhưng còn "cái" thì sao?

Xin thưa rằng "cái" là một từ cổ và là âm xưa của chữ [界] mà âm Hán Việt hiện hành là "giới". Thiết âm của nó trong Quảng vận (đầu thế kỷ XI) là "cổ bái thiết" [古拜切]; vậy lẽ ra nó phải được đọc là "C[ổ] + [b]ÁI" = CÁI. Ta còn có những chữ "cái" khác - những trường hợp đồng dạng từ nguyên học - cũng trải qua một sự chuyển biến ngữ âm tương tự":

- "giới1" [介] là một đơn vị từ, đồng nguyên với "cá"

[个], có nghĩa là "cái", vốn đọc là (vđl) CÁI. Trong Kinh nghĩa thuật văn [經義述闻], Vương Dẫn Chi đã chỉ ra rằng cả hai chữ vốn chỉ là một nhưng về sau người ta dành âm CÁ cho chữ [个] và âm CÁI > GIỚI cho chữ [介] (Theo Vương Lực, Đồng nguyên tự điển, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1997, tr. 431). Với nghĩa này thì, khi vào đến tiếng Việt, "cái" là một danh từ đơn vị (trước đây bị gọi là "loại từ"), như trong "cái bàn", cái ghế", cái mâm", v.v…

- "giới 2" [介] là to lớn, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), mà "cái" thì hiện nay lại vinh dự được nhiều người xem là "thuần Việt",như có thể thấy trong (ncttt) "cột cái", "đường cái", "sông cái [sông con]", v.v...

- "giới 3" [戒] là phòng ngừa, thận trọng, giữ gìn, chay tịnh, v.v..., vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), nay chuyển sang thanh điệu 1 thành "cai" ncttt "cai nghiện", "cai sữa", v.v…

"giới 4" [芥] là [rau] cải, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), nay đã chuyển sang thanh điệu 4 thành CẢI, ncttt "cải bẹ xanh", "củ cải", "cải xà-lách", v.v...

"giới 5" [疥] là ghẻ, vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), ncttt "cái ghẻ" ( = động vật chân đốt rất nhỏ, sống kí sinh ở da, gây ra bệnh ghẻ [Từ điển Vietlex]). Cuối cùng, ta có:

- "giới 6" [界], vđl CÁI (Quảng vận: "cổ bái thiết"), có nghĩa là cái ranh giữa hai vùng đất, rồi vùng đất hạn chế trong những lằn ranh, rồi vùng đất, và xa hơn nữa là bờ cõi.

Với âm và nghĩa của "giới 6" [界], như đã thấy trên đây, ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng CÁI là âm xưa của "giới6" [界], đồng thời là một từ cổ, có nghĩa là một vùng đất nhất định. Đây chính là nghĩa của "cái" trong thành ngữ "lạ nước lạ cái".

--
Nguồn:

Năng lượng Mới 486

Monday, 8 August 2016

Van chuyen Dong-Tay

Dem Au Chau chong den


Thắp đèn khuya
Ngồi kể chuyện 
Miền Trung mình..

ĐN

Hoa phuong





Cám ơn người cháu của tôi,
Cám ơn mọi người
Ngày vẫn thế
Vui buồn
Nhưng có độc giả
Là quý nhất!

DN

11 hiệu ứng tâm lý hữu dụng trong cuộc sống



Tâm lý con người rất phức tạp, nó vừa có tính riêng biệt vừa có tính chung, đằng sau mỗi một hành vi đều ẩn chứa bí mật tâm lý kỳ diệu. Có đến 10 hiện tượng tâm lý hành vi hữu dụng nhất sẽ giúp bạn hiểu thêm về hành vi của người khác và của cả bản thân mình.

1. Lời tiên tri tự đúng ​(tự kỷ ám thị)​

Robert Rosenthal – nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ đã từng làm một cuộc thí nghiệm thế này: Ông chia một nhóm chuột bạch thành hai nhóm A và B, nói với người nuôi dưỡng nhóm A rằng những chú chuột này rất thông minh, đồng thời lại nói với người nuôi dưỡng nhóm B rằng trí lực những chú chuột này chỉ bình thường thôi.

Mấy tháng sau, ông cho hai nhóm chuột này làm một trắc nghiệm kiểu vượt qua mê cung và phát hiện nhóm A thật sự thông minh hơn nhóm B, chúng có thể ra khỏi mê cung tìm được thức ăn đầu tiên.

Ông nghĩ, hiệu ứng này có thể xảy ra ở con người không? Thế là ông lại đến một trường trung học bình thường, ông vào một lớp học bất kỳ và khoanh tròn vài cái tên học sinh trong bảng danh sách, sau đó ông nói với giáo viên của những học sinh đó rằng: Những em này trí tuệ rất cao, rất thông minh.

Qua một thời gian, ông trở lại trường và kỳ tích đã xảy ra: những học sinh mà ông chọn thật sự đã trở thành những người xuất sắc của lớp.
Tại sao lại xảy ra hiện tượng này? Đó chính là tác dụng đầy ma lực của một kiểu “ám thị” thần kỳ. Trong cuộc sống, mỗi người đều sẽ chịu sự ám thị tâm lý thế này hay thế kia, những ám thị này có cái tích cực, cũng có cái tiêu cực.

Nếu một người chịu sự ám thị nào lâu dài thì kết quả họ sẽ trở thành đúng như loại ám thị đó.

2. Hiệu ứng quá giới hạn

Tác giả nổi tiếng của Mỹ – Mark Twain có một lần nghe mục sư giảng trong nhà thờ. Lúc đầu, ông cảm thấy mục sư giảng rất hay, rất cảm động và ông đang dự định sẽ quyên góp tiền.

Nhưng qua 10 phút, mục sư vẫn chưa giảng xong, ông bắt đầu có chút mất kiên nhẫn nên quyết định sẽ quyên một ít tiền lẻ thôi.

Qua thêm 10 phút nữa mục sư vẫn tiếp tục giảng, thế là ông nghĩ không quyên góp nữa.

Hiện tượng tâm lý này được gọi là “hiệu ứng quá giới hạn”, nghĩa là khi bị kích thích quá nhiều, quá mạnh và thời gian tác dụng quá lâu sẽ dẫn đến tâm lý cực kỳ khó chịu và phản kháng.
Hiệu ứng siêu hạn thường xảy ra trong việc giáo dục gia đình. Ví dụ như khi đứa con phạm lỗi, bố mẹ cứ nhắc đi nhắc lại chuyện đó cùng lời khiển trách sẽ khiến đứa con từ buồn bã bất an chuyển sang mất kiên nhẫn, thậm chí chán ghét.

Một khi bị “bức” quá thì sẽ xuất hiện tâm lý và hành vi phản kháng kiểu “lần sau mình sẽ làm vậy nữa”.

Có thể thấy, sự khiển trách và đánh giá của bố mẹ dành cho con cái không được vượt quá giới hạn, đối với trẻ chỉ nên “phạm lỗi một lần, chỉ phạt một lần”. Cho dù muốn nhắc nhở lại thì cũng không nên lặp lại đơn thuần mà phải thay đổi góc độ, cách nói. Như thế thì trẻ mới không cảm thấy lỗi của mình cứ bị “giữ mãi không buông” mà sinh ra tâm lý chán ghét, phản nghịch.

3. Hiệu ứng Westerners

Nhà tâm lý học Westerners đã từng giảng một ngụ ngôn thế này. Có một đám trẻ con chơi đùa huyên náo suốt ngày trước cửa nhà một ông lão.

Mấy ngày qua đi, ông lão không thể chịu đựng nữa. Ông bèn cho mỗi đứa trẻ 10 đồng và nói: “Các cháu đã khiến ở đây thật náo nhiệt, làm cho ông cảm thấy mình trẻ lại rất nhiều, tiền này ông thưởng cho các cháu”.

Bọn trẻ rất vui, hôm sau lại đến, nhưng lần này ông lão chỉ cho mỗi đứa 5 đồng.

Bọn trẻ vẫn thích thú đến chơi ngày hôm sau, lần này ông lão chỉ cho mỗi đứa 2 đồng. Vậy là bọn trẻ tức giận bảo, “Cả ngày mới được cả 2 đồng, ông có biết bọn cháu chơi đùa cũng mệt lắm không!” Sau đó thì bọn trẻ không đến nhà ông lão chơi nữa.
Trong câu chuyện này, cách của ông lão rất đơn giản, ông đã biến động cơ bên trong “chơi vì niềm vui của chính mình” từ bọn trẻ trở thành động cơ bên ngoài “chơi vì để được tiền”.

Và khi ông lão thao túng nhân tố bên ngoài này thì cũng đã thao túng được hành vi của bọn trẻ.
Hiệu ứng Westerners cũng thấy rõ trong cuộc sống. Ví dụ, bố mẹ thường nói với con cái: “Nếu lần này con thi được 10 điểm thì bố mẹ sẽ thưởng 100 ngàn”, “Nếu con thi đứng trong top 5 thì bố mẹ sẽ thưởng con một món đồ chơi mới” v.v... Người lớn chúng ta có lẽ không ngờ rằng cơ chế thưởng này không thỏa đáng, nó sẽ khiến hứng thú học tập của trẻ dần dần giảm đi.

4. Hiệu ứng Gió Nam

Hiệu ứng này bắt nguồn từ câu chuyện ngụ ngôn của tác gia người Pháp – Jean de La Fontaine.
Gió Bắc và Gió Nam thi uy lực với nhau xem ai thổi rơi áo khoác của người đi đường. Đầu tiên là Gió Bắc thổi những luồng gió thật lạnh, lạnh đến thấu xương, kết quả là người đi đường càng quấn áo chặt hơn.

Gió Nam bắt đầu từ tốn lay động, gió thật dịu và ánh mặt trời thật đẹp khiến người đi đường cảm thấy như mùa xuân tràn ngập, vậy là họ cởi áo khoác ra để thưởng thức bầu không khí dễ chịu ấy. Cuối cùng Gió Nam chiến thắng.

Gió Nam trong câu chuyện sở dĩ đạt được mục đích là vì nó đã thuận theo nhu cầu nội tại của con người. Phản ứng tâm lý sinh ra do được kích thích cảm giác cá nhân và nhu cầu muốn thỏa mãn mình chính là “hiệu ứng Gió Nam”.

5. Hiệu ứng thùng gỗ

Tại sao có tên gọi này? Một chiếc thùng được ghép từ nhiều mảnh gỗ, và nếu như những mảnh gỗ này dài ngắn khác nhau thì bạn sẽ thấy rõ ràng lượng nước chứa được trong thùng không phụ thuộc vào những mảnh gỗ dài, mà nó chỉ có thể đầy lên đến chiều cao của chỗ mảnh gỗ ngắn nhất mà thôi.

Thành tích học tập chung của một đứa trẻ giống như một chiếc thùng gỗ lớn vậy, thành tích mỗi một môn học trong đó đều là một miếng gỗ không thể thiếu để ghép thành chiếc thùng. Sự ổn định trong thành tích tốt của trẻ không thể dựa vào sự xuất sắc (mảnh gỗ dài) ở vài môn học nào đó, mà nên chú trọng ở tình trạng chỉnh thể của nó, đặc biệt là ở một số mắc xích yếu (mảnh gỗ ngắn).
Ý nghĩa của hiệu ứng này?

Một người không thể xem nhẹ khiếm khuyết của mình và của cả người khác.

Bạn muốn một ai đó hoàn thiện hơn thì không thể chỉ dựa vào sở trường, tài năng của họ mà quên đi sở đoản hay tật xấu, cho dù nhìn vào tưởng chừng như chúng không hề ảnh hưởng gì. Bởi vì một mảnh gỗ ngắn đi thôi cũng đủ làm nước trong cả thùng chảy ra ngoài.

6. Hiệu ứng Hawthorne

Tại công xưởng Hawthorne nằm ở ngoại ô bang Chicago (Mỹ), công nhân thường xuyên nóng giận bất bình cho nên tình hình sản xuất không lý tưởng cho lắm.

Sau đó, chuyên gia tâm lý đặc biệt đến đây làm một cuộc thí nghiệm: Trong khoảng thời gian 2 năm, vị chuyên gia này có cuộc trò chuyện riêng với hơn 20.000 công nhân và quy định trong quá trình trò chuyện, vị chuyên gia sẽ nhẫn nại lắng nghe mọi ý kiến và bất mãn của họ đối với công xưởng.

Cuộc thí nghiệm đã đem lại kết quả không ngờ: sản lượng của công xưởng đã tăng vượt bậc.

Rõ ràng, con người có rất nhiều thắc mắc hoặc bất mãn nhưng không phải lúc nào cũng có thể biểu đạt ra được. Sau khi họ “được nói” thì sẽ có một sự thỏa mãn khi đã phát tiết ra, họ cảm thấy dễ chịu và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.



7. Hiệu ứng tăng giảm

Hiệu ứng này trong giao tiếp giữa người với người chính là: Bất cứ ai cũng đều hy vọng sự yêu thích, ưu tiên của đối phương dành cho mình “không ngừng tăng lên” chứ không phải “không ngừng giảm đi”.

Lấy ví dụ, rất nhiều người bán hàng nắm được tâm lý này của khách hàng, trong khi cân món hàng họ luôn lấy một phần nhỏ để lên cân rồi từ từ “thêm vào thêm vào” cho đủ số lượng khách hàng cần, chứ họ không lấy một phần lớn ngay rồi sau đó lại “bớt ra bớt ra”, mặc dù cả hai cách đều vì đạt đến số lượng khách hàng cần nhưng hành động “thêm vào” sẽ khiến khách hàng cảm thấy hài lòng hơn rất nhiều.
Khi chúng ta phê bình đánh giá trẻ nhỏ thường khó tránh “khen trước, chê sau”.

Kỳ thực cách này không lý tưởng lắm, tốt hơn hết là hãy chỉ ra cho chúng thấy những lỗi chúng mắc phải rồi sau đó mới khích lệ chúng bằng những “thành quả” mà chúng đã đạt được, như thế trẻ sẽ dễ dàng tiếp thu nhận xét của bạn và có thiện chí sửa chữa hơn.

8. Hiệu ứng bươm bướm

Theo nghiên cứu cho thấy, những khí lưu yếu và nhỏ của một con bươm bướm tình cờ vỗ cánh ở Nam bán cầu kết hợp với vô số các nhân tố khác thì sau vài tuần đã biến thành một trận vòi rồng ở bang Texas (Mỹ)!

Sau đó các nhà khoa học đã gọi đây là “hiệu ứng bươm bướm” và đưa ra lý luận như sau: Một nhân tố khởi nguồn cực nhỏ nếu trải qua một thời gian nhất định và tác dụng với các nhân tố tham dự khác thì hoàn toàn có thể phát triển thành sức ảnh hưởng cực kỳ lớn và phức tạp.

Hiệu ứng này nói với chúng ta rằng: Đừng bao giờ xem thường những thứ nhỏ bé. Một câu nói, một chuyện, một hành vi nhỏ nếu như đúng đắn sẽ ảnh hưởng tích cực rất lớn, còn nếu sai lệch, võ đoán thì ảnh hưởng tiêu cực cũng lớn như vậy.

9. Hiệu ứng đóng kí hiệu

Trong thế chiến 2, Mỹ do binh lính không đủ nên đã lập một đội các tù nhân trong ngục đưa ra tiền tuyến chiến đấu. Mỹ đặc phát vài chuyên gia tâm lý đến huấn luyện, động viên các tù nhân này và theo họ cùng ra tiền tuyến.

Trong thời gian huấn luyện, các nhà tâm lý thuyết giáo rất nhiều với tù nhân và bắt mỗi người họ mỗi tuần phải viết một lá thư cho người thân nhất của mình. Nội dung trong thư do nhà tâm lý thống nhất chỉ định, thuật rằng: biểu hiện của tù nhân trong ngục tốt như thế nào, tự cải tạo mình như thế nào v.v…

Nhà tâm lý yêu cầu họ viết thật tỉ mỉ rồi gửi đi. Sau 3 tháng, các tù nhân ra tiền tuyến, nhà tâm lý lại yêu cầu họ trong thư viết rằng họ đã phục tùng chỉ huy như thế nào, chiến đấu dũng cảm ra sao v.v...

Kết quả là, biểu hiện của đội binh tù nhân này không hề thua kém binh lính thực thụ. Họ trở nên giống y như những gì trong thư họ viết. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng đóng kí hiệu”, còn có tên gọi khác là “hiệu ứng ám thị”.

10. Hiệu ứng ngưỡng vào

Trong cuộc sống hằng ngày có một hiện tượng thế này: Khi bạn nhờ người khác giúp đỡ, nếu vừa mới bắt đầu đã đưa ra yêu cầu quá cao thì rất dễ bị cự tuyệt. ​Ngược lại nếu đầu tiên bạn đưa ra yêu cầu nhỏ thôi, sau khi người khác đồng ý hãy tăng thêm yêu cầu thì sẽ dễ đạt được mục tiêu hơn. Hiện tượng này được các nhà tâm lý học gọi là “hiệu ứng ngưỡng vào”.

Hiệu ứng này cũng vận dụng khá hữu hiệu trong giáo dục con cái trong gia đình.

Hãy yêu cầu thấp thôi, khi trẻ đã làm đúng rồi, hãy cho chúng sự khẳng định và biểu dương, khích lệ, thế thì những yêu cầu tăng dần sau đó sẽ khiến trẻ vui vẻ thực hiện hơn.

11.

Niềm tin tôn giáo không nên chạm vào. Tự do tín ngưỡng là thế.

(Theo Tinhhoa)

Dem troi day sao!

Thắp đèn khuya
ngồi kể chuyện trăng sao..

DN

Mot bai tho 27 cau day y nghia!

Phá Tam Giang, Thua Thien/Hue/ thời thơ ấu của Ngộ

                             

TREAT EACH HUMAN FRIEND BY THINKING THAT:

Tac gia: Buddhadasa Indapanno


1. Hãy xem mỗi con người là bạn ta và nghĩ rằng:

2. Người ấy là bạn ta, cùng sinh ra đời để rồi sẽ già nua, bệnh tật và chết cùng ta.


3. Người ấy là bạn ta, cùng ngụp lặn với ta trong vòng sinh diệt.

4. Người ấy cũng vướng bụi trần ô nhiễm như ta, do đó đôi khi cũng phạm vào lầm lỗi.


5. Người ấy cũng mang đầy dục vọng, thù hận và mê lầm, nào có khác ta đâu!

6. Cũng như ta, người ấy cũng lắm khi nhầm lẫn.

7. Người ấy cũng chẳng biết tại sao mình lại sinh ra đời, và cũng chẳng biết thế nào là niết bàn, quả là giống y như ta!


8. Có những thứ mà người ấy cũng ngô nghê như ta trước đây.


9. Người ấy cũng làm những thứ theo sở thích mình, như ta cũng từng làm trước đây.


10. Người ấy cũng muốn mình giỏi giang, cũng như chính ta luôn muốn mình giỏi hơn, sáng chói hơn, danh tiếng hơn.

11. Người ấy thường chiếm lấy thật nhiều những gì của kẻ khác mỗi khi có cơ hội, nào có khác gì ta đâu!


12. Người ấy có quyền cuồng điên, say mê, đắm mình trong cái tốt đẹp, cũng như ta vậy.


13. Người ấy là một kẻ bình thường với bao nhiêu thứ ràng buộc, cũng như ta vậy thôi.


14. Người ấy nào có bổn phận phải gánh chịu khổ đau và chết thay cho ta đâu.


15. Người ấy là một người bạn cùng quê hương và tín ngưỡng với ta.


16. Chẳng khác gì ta, người ấy cũng hành động bồng bột và thiếu suy nghĩ.


17. Người ấy có bổn phận với gia đình mình chứ nào có trách nhiệm gì với gia đình của ta đâu.


18. Người ấy có quyền chạy theo các sở thích và những thú vui riêng.


19. Người ấy có quyền chọn lựa bất cứ gì (kể cả tôn giáo) theo sở thích của mình.


20. Người ấy có quyền thụ hưởng các tiện nghi công cộng ngang hàng với ta.


21. Người ấy có quyền để cho tâm thần bấn loạn và điên rồ, chẳng khác gì với ta.


22. Người ấy có quyền kêu gọi sự giúp đỡ và chờ đợi sự ân cần xót thương của ta.


23. Người ấy có quyền được ta tha thứ tùy theo từng hoàn cảnh.


24. Người ấy có quyền theo xã hội chủ nghĩa hay chế độ tự do tùy theo hoàn cảnh đẩy đưa.


25. Người ấy có quyền ích kỷ trước khi nghĩ đến kẻ khác.


26. Người ấy được hưởng nhân quyền ngang hàng với ta trong thế giới này.


27. Nếu tất cả chúng ta đều biết nghĩ suy như thế thì xung đột nào có thể xảy ra!


--



TREAT EACH HUMAN FRIEND BY THINKING THAT:

Hãy xem mỗi con người là bạn ta và nghĩ rằng:
He is our friend who was born to be old, become ill, and die, together with us.
Người ấy là bạn ta, cùng sinh ra đời để rồi sẽ già nua, bệnh tật và chết cùng ta.
He is our friend swimming around in the changing cycles with us.
Người ấy là bạn ta, cùng ngụp lặn với ta trong vòng sinh diệt.
He is under the power of defilements like us, hence he sometimes errs.
Người ấy cũng vướng bụi trần ô nhiễm như ta, do đó đôi khi cũng phạm vào lầm lỗi.
He also has lust, hatred, and delusion, no less than we.
Người ấy cũng mang đầy dục vọng, thù hận và mê lầm, nào có khác ta đâu!
He therefore errs sometimes, like us.
Cũng như ta, người ấy cũng lắm khi nhầm lẫn.
He neither knows why he was born nor knows nibbana, just the same as us.
Người ấy cũng chẳng biết tại sao mình lại sinh ra đời, và cũng chẳng biết thế nào là niết bàn, quả là giống y như ta!
He is stupid in some things like we used to be.
Có những thứ mà người ấy cũng ngô nghê như ta trước đây.
He does some things accordingly to his own likes, the same as we used to do.
Người ấy cũng làm những thứ theo sở thích mình, như ta cũng từng làm trước đây.
He also wants to be good, as well as we who want even more to be good - outstanding - famous.
Người ấy cũng muốn mình giỏi giang, cũng như chính ta luôn muốn mình giỏi hơn, sáng chói hơn, danh tiếng hơn.
He often takes much and much more from others whenever he has a chance, just like us.
Người ấy thường chiếm lấy thật nhiều những gì của kẻ khác mỗi khi có cơ hội, nào có khác gì ta đâu!
He has the right to be madly good, drunkenly good, deludedly good, and drowning in good, just like us.
Người ấy có quyền cuồng điên, say mê, đắm mình trong cái tốt đẹp, cũng như ta vậy.
He is an ordinary man attached to many things, just like us.
Người ấy là một kẻ bình thường với bao nhiêu thứ ràng buộc, cũng như ta vậy thôi.
He does not have the duty to suffer or die for us.
Người ấy nào có bổn phận phải gánh chịu khổ đau và chết thay cho ta đâu.
He is our friend of the same nation and religion.
Người ấy là một người bạn cùng quê hương và tín ngưỡng với ta.
He does things impetuously and abruptly just as we do.
Chẳng khác gì ta, người ấy cũng hành động bồng bột và thiếu suy nghĩ.
He has the duty to be responsible for his own family, not for ours.
Người ấy có bổn phận với gia đình mình chứ nào có trách nhiệm gì với gia đình của ta đâu.
He has the right to his own tastes and preferences.
Người ấy có quyền chạy theo các sở thích và những thú vui riêng.
He has the right to choose anything (even a religion) for his own satisfaction.
Người ấy có quyền chọn lựa bất cứ gì (kể cả tôn giáo) theo sở thích của mình.
He has the right to share equally with us the public property.
Người ấy có quyền thụ hưởng các tiện nghi công cộng ngang hàng với ta.
He has the right to be neurotic or mad as well as we.
Người ấy có quyền để cho tâm thần bấn loạn và điên rồ, chẳng khác gì với ta.
He has the right to ask for help and sympathy from us.
Người ấy có quyền kêu gọi sự giúp đỡ và chờ đợi sự ân cần xót thương của ta.
He has the right to be forgiven by us according to the circumstances.
Người ấy có quyền được ta tha thứ tùy theo từng hoàn cảnh.
He has the right to be socialist or libertarian in accordance with his own disposition.
Người ấy có quyền theo xã hội chủ nghĩa hay chế độ tự do tùy theo hoàn cảnh đẩy đưa.
He has the right to be selfish before thinking of others.
Người ấy có quyền ích kỷ trước khi nghĩ đến kẻ khác.
He has the human right, equal to us, to be in this world.
Người ấy được hưởng nhân quyền ngang hàng với ta trong thế giới này.
If we think in these ways, no conflicts will occur.
Nếu tất cả chúng ta đều biết nghĩ suy như thế thì xung đột nào có thể xảy ra!

--
1/ Bures-Sur-Yvette, 05.03.13
Hoang Phong chuyển ngữ
2/ pic tu Wiki


















Sunday, 7 August 2016

Sonntag

 Trường Sa
  

Sonntag

Trời sáng trong màu xanh không mây
Anh đi ra balkon cảm giác khí trời lạnh.
Những mái nhà màu đỏ im lìm
Đón những tia nắng mai ngày chủ nhật!

Đã có những điều kì lạ
Dễ thương xảy ra.
Hôm nay!
Ôi, sự vận hành của pháp!

Hình như mình đã làm điều gì đúng?

ĐN
7.August 2016

Saturday, 6 August 2016

Thu cho Mit vv mc




Hỏi:

Thưa chú, những câu hỏi về phật pháp gì thì có thể đặt cho 1 giảng sư?
GS này tu theo Nam tông, giỏi Pali, Vi diệu pháp, Kinh Nikaya, có kiến thức về thiền bình thường cùa Nam tông như 4 niệm xứ. GS từng tu học ở Thái Lan và đang sống ở Mỹ.

Thày đi vắng, chú xin trã lời tóm tắt:

GS biết về các chủ đề sau đây, thì mình cứ trao đổi với GS về những chủ đề như thế, như vậy mới lợi lạc, ngoài ra các câu hỏi nên thiết thực, rỏ ràng, hỏi sao cho GS có thể trã lời ngắn gọn trong vòng 5 đến 7 phút như GS vẫn làm.

1. Pali

a. Về từ vựng
b. Về văn phạm
c. Về cách đọc

2. VDP

a. Về tâm
b. Về tâm sỡ
c. Về các tác phẩm VDP khác như: Sách của HT Minh Châu, HT Giác Chánh và 6 bộ VDP

3.Nikaya

a. Kinh tiểu bộ, Kinh Trung bộ, Kinh tăng chi, Kinh Tương ưng, Kinh Trường bộ
b. Tác phẫm Milinda vấn đạo và các tác phẩm luận khác

4. Thiền

a. Thiền tuệ / thiền Tứ niệm xứ
b. Thiền định

5. Tu tập 

dựa trên giáo lý liên quan đến
giới định tuệ,
luật nhân quả,
nghiệp,
cốt lõi đạo Phật,
4 thánh đế,
khổ đế,
tập đế,
diệt đế, niết bàn
đạo đế,
Bát chánh đạo,
Lý duyên khởi,
12 nhân duyên,
6 căn,
6 trần,
6 thức,
37 phẩm trợ đạo


do đó cháu có thể nêu lên những câu hỏi liên quan đến 5 chủ đề ấy.
( Thường GS thích câu hỏi thiết thực, do mình thắc mắc về đạo Phật, hay do mình không hiểu khi thực hành trong đời sống .. thì thường được hoan nghênh hơn là các câu hỏi ly thuyết quá.)

Chúc cháu an vui,

Chú ĐinhNgộ
mong rằng sẽ được nghe ý kiến của cháu thêm


Tan man voi Ngo

1.

Truoc khi di nghi
Viet vai dong
Sau khi ngu day
Suy nghe viet vai cau hoi
Ve pp
De giup cho mc
Mit

2.

Hom nay da dua duoc mot clip moi
Trinh dien ba con
Sau may tuan ngung nghi

3.

Met rui
Thoi di nghi

DN
mong Ngo an vui

Thursday, 4 August 2016

Cháu hoi ve Niet ban, chu tra loi.

Niet ban


04-08-2016


Câu hỏi: Thưa chú!

- Niết-bàn có ngay đời này hay phải đợi đến đời sau?
Con cảm ơn chú nhiều!


Thày đi xa, chú mạn phép trã lời:

Vắng mặt của tham sân si, phiền não, bản ngã và sống tỉnh thức trọn vẹn trong thời điễm hiện tại thời đó là niết bàn. Niết bàn là một trạng thái của tâm, cháu ạ.
Do đó niết bàn ở quanh ta đó.

Chú ĐinhNgộ


Niet Ban/ Co va Khong/ DNgo


Que Huong cua Ngộ

1.
Hom nay doc duoc mot bai bao ve Pham cong Thien.
Rat bo ich!

2.
Cac bai Kinh Tieu Bo noi ve Niet Ban



Chương Tám
Phẩm Pàtaligàmiya

(I) (Ud 80)

Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết-bàn cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các Tỷ-kheo ấy chú tâm, tác ý, dồn tất cả tâm tư lắng nghe pháp.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
- Này các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyện vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau.

(II) (Ud 81)
(Như kinh trên (I), chỉ khác lời cảm hứng)
1. Khó thấy là vô ngã,
Không dễ thấy, sự thật,
Với bậc có hiểu biết,
Khéo xâm nhập được ái,
Với vị ấy thấy rõ,
Ðâu còn có vật gì.

(III) (Ud 82)
(Như kinh trên, chỉ khác lời cảm hứng)
- Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.

(IV) (Ud 83)
(Như các kinh trước, chỉ khác lời cảm hứng).
- Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận khổ đau.



Tuesday, 2 August 2016

Tan Man voi Ngo

Lang Co




1.

Hom nay ra balkon
Nhin loi troi trong
Khong thay may bay

O, sao khong co may?
Chi co bau troi xanh
Thoi thi, anh thich troi xanh
Troi trong hiem quy!

2.

Hoc Chung dao ca
On bai hom qua
Hoc bai hom nay
Thoi gian di mau
Bai hoc phong phu

Nhu the
Moi bai duoc hoc 2 lan
Nhu the de nho!

3.

Hom nay co thay nick ai
Nhung chi mot luc
Khong kip hoi tham.

4.

Doc duoc mot bai
Cua HT tren bao hay

Xem duoc clips dai
Ve viec xay tau to cho container
Lon nhat the gioi
Oi, cong trinh vi dai!

5.

Hom nay chien ca hoi
Lai nho den nguoi con gai gioi
Nho ve Ngo!
Hiem ai gioi va dep nhu nang!

6.

Những lần qua Lăng Cô
Lòng anh đều rúng động
Dù là khi xuống đèo Hải Vân
Hay đến Lăng Cô chuẩn bi lên Đèo
Lăng Cô ôi cảnh đẹp
Xứ Huế quê nội ơi

ĐỗNguyễn

Monday, 1 August 2016

Hom nay

Xinh


1.
Nghe mot bai phap hay!
Phat hien them ve youtube, co nhieu clips bo ich ve moi mat.

2.
O Da nang co mot hien tuong moi la: hien tuong cong an giao thong co cach xu su khoan dung, khac nhu nguoi ta van nghi ve ho.

3.
Van nghi ve vai dong chat..

4.
Thị pháp trụ pháp vị ,
Chư Phật thường hiện tiền.

5.
Tánh, tướng, thể dụng của pháp

6.
Định, tuệ trong ta đều có sẵn, chỉ cần thấy..

7.
Tâm bám víu = vô minh ái dục

8.
Bước tới thì bi cuon troi. (buoc toi nghia la vo minh, ai duc)
Dung lai thi bi chim dam. (bám víu chap thu la dung lai)

9.
Căn trần hạ tội








Sunday, 31 July 2016

Khi nghe phap thoai, khong co gang ap dung.

Firenz, lâu rồi, chưa trỡ lại!


31-07-2016

Câu hỏi:

Dạ cháu kính chào chú ạ!
1.
Giờ này bên cháu là đã 3 rưỡi sáng, cháu ngồi một mình trong đêm. Cảm thấy tuyệt vọng rồi lại nghĩ đến bài pháp của chú để áp dụng nhưng cháu lại làm không được. Chú dạy lúc tâm mình bị vọng tưởng hoặc ảo tưởng thì chỉ quan sát nó thôi, rồi cứ để tự động nó đi. Cháu biết vậy nhưng sao cháu lại không làm được ạ.
2.
Cháu lại càng thấy cái sân của cháu nó trỗi dậy hơn nữa, cháu xin chú chỉ dạy cháu ạ!





Thày đi vắng, chú sẽ trã lời cho cháu:

1. Nghe pháp thoại thì nghe, không cần cố áp dụng.
2. Cái sân mà cháu thấy được a? Tuyệt vời!  Cháu nhận ra là hay lắm. Hãy thông cảm với nó.
Các pháp là vô thường, đến rồi đi.
Ngoài ra, các pháp vận hành mà. Sống tùy pháp thì khỏe, cháu ạ.
Tại sao cháu sân?


Chúc cháu an vui,


Chú ĐinhNgộ

Lam mc

ngam may lung troi, Sylt, Germany


Từ khi nào vậy,
Anh đã nhận ra mây trời có sẵn?
Lâu nay, anh chỉ ngóng trăng hay sao,
Ôi, tuyệt vời
Khi yêu quý những gì thường có!

Và cũng vậy
Anh yêu từng giây phút
Thời gian và không gian này thật quý!

ĐN
đêm ủng hộ MC MIT

Saturday, 30 July 2016

Biet minh

 
 
Andere erkennen ist weise. Sich selbst erkennen ist Erleuchtung.
Lao-tse 
 
Biết người là minh triết. Tự biết mình là giác ngộ.

Mây




Mây trời đẹp quá!
Có người con gái ở rất xa,
Còn xa hơn mây trời,

Đêm qua trời không có sao
Trời không có trăng
Nhưng trời có mây,

Và có lời động viên
Của nàng,
Của mây trời nửa

ĐỗNguyễn

Thursday, 28 July 2016

Chau hoi chu dap

Tagtiatelle


Ngày gửi: 28-07-2016
 
Câu hỏi:
1. Kính chú, cháu đang có một thắc mắc băn khoăn mà không biết. Cháu có một người bạn, bạn đó là một Phật tử và đang bị bệnh. Gần đây bạn đó có biết đến bộ môn Pháp Luân Công và đang học và tập theo điều đó.
2. Nhưng cháu có nghe một vài Sư thầy nói rằng: Lãnh đạo Phật giáo trên toàn cầu đã kêu gọi tất cả các tăng ni và phật tử không nên học theo trường phái đó.
3. Cháu rất hoang mang và không biết phải khuyên bạn mình như nào.
4.Vậy thưa thầy có phải là một Phật tử thì không nên học theo trường phái đó đúng không ạ?

Cháu cảm ơn ạ. Mong chú sức khỏe thật nhiều!



Thày đi xa, chú xin trả lời nhé:
1. Bạn của cháu bệnh thân hay tâm?
2. Chú chưa biết pháp môn đó.
3. Cháu hoang mang vì cháu chưa tìm hiểu, tìm hiểu thêm nhé.
4. Cháu tự tìm hiểu nhé.

Chúc cháu an vui

Chú ĐinhNgo

Wednesday, 27 July 2016

Chau hoi, chu dap


27-07-2016

Câu hỏi: Chào chú

Cháu chúc chú luôn được mạnh khỏe.

1. Hiện nay cháu đang rất bối rối, cháu không thể nào định tâm được. Cháu xin phép được nói dài một chút.
Cháu và chồng cháu đã ngoài 50, khi duyên tới hai vợ chồng cháu đều cùng tu tập, giữ tam quy ngũ giới, cháu một tháng giữ 8 ngày trai giới, nên chuyện vợ chồng đã dứt, tuy chồng cháu chưa muốn.

2. Nhưng gần đây chồng cháu có tình ý với 1 người phụ nữ khác, đáng lẽ cháu sẽ không buồn mới đúng nhưng sao lòng cháu đau quá, bởi vì 2 vợ chồng cháu đều vượt qua nhiều cay đắng ngọt bùi 30 năm nay, đến giờ cũng chưa thoát khỏi nghèo, cháu nghĩ rằng khi khó khăn qua thì chúng cháu sẽ cùng thảnh thơi an lạc, nhưng lại có 1 người thứ ba chen vào và chồng cháu tuy nói rất yêu thương cháu nhưng cũng sẽ yêu thương người ấy như vậy và cho là hợp lẽ (nếu có người thứ ba mà người ấy cũng tốt với cháu như với chồng cháu). Anh ấy cho là cháu không có tình yêu từ bi mà chỉ có sự ích kỷ trong đó.

3. Quả thật cháu suy nghĩ mãi, không trở về chính mình được nữa, lòng cháu đau lắm, đáng lẽ cháu phải thoát ly buông xả được để tu tập nhưng sao cháu có cảm giác đau lắm, không phải là hận chồng cháu hay ghét người phụ nữ kia. Cháu phải làm sao đây thưa Thầy, xin Thầy rủ lòng từ bi độ cháu.

4. Quả thật cuộc sống cháu khá phụ thuộc chồng, cháu lại sống khép kín và từ khi lấy chồng đến nay mỗi khi có chuyện gì buồn phiền cháu thường chỉ bày tỏ trước bàn thờ Phật và Quan Âm Bồ Tát, khóc cho đã rồi lại đi làm việc tiếp. Nay cháu bí bách quá mới xin phép bạch chú ạ.


Thày đi xa, chú xin mạn phép trã lời nhé!

1. Tu thì tu, mà giữ hạnh phúc gia đình thì nên giữ. Cháu đã không làm như thế.

2. Cháu không lo cho chồng, ông ấy có người khác lo. Lỗi của cháu.

3. Trước đây cháu đã lo tu, thì bây giờ đi tiếp nhé. Có người khác lo cho ông, cháu rảnh rang thêm, để tu.
Bây giờ cháu muốn nghỉ tu, trỡ lại với chồng, hi vong chưa trễ?

4. Sống phụ thuộc với chồng thì thật là kẹt. Tuy nhiên, cháu đã có phương pháp của Phật, chắc chắn cháu sẽ vượt qua khó khăn hiện nay.

Tu có quy luật của tu, gia đình có quy luật của gia đình. Chú nghĩ vậy.

Chúc cháu an vui

Chú ĐinhNgộ





Tuesday, 26 July 2016

chau hoi, chu tra loi

Hình anh Quang vẽ



Câu hỏi 22-07-2016: 

Dạ, cháu được biết tới Phật pháp từ hồi con lớp 10. Giờ cháu đã vô đại học.

1. Mỗi ngày đi học, khi người khác yêu cầu giúp đỡ, cháu đều cố ép mình giúp người ta dù việc giúp đó gây ra cho cháu nhiều bất tiện.

2. Cháu làm việc này vì hy vọng nó làm cháu bớt ích kỷ nhưng mà càng lúc cháu càng thấy khó chịu vì cháu luôn tính toán thiệt hơn.

3. Nhưng mà cháu không làm thì lại thấy tội người ta, mà cũng sợ người ta nói mình không tốt. Dạ chú có thể cho cháu lời khuyên để tâm cháu thoải mái hơn không chú?



Thày đi xa, chú xin trã lời cho cháu nhé:

1. Giúp người là tốt khi có thể. Nếu bất tiện thì tùy việc.

2. Trong xã hội giúp nhau qua lại là việc đương nhiên. Có khi, mình cần sự hổ trợ, có khi mình hổ trợ người.

3. Nếu có khả năng thời gian và việc đáng làm thì làm, việc không đáng thì thôi.

Có những lần, chú giúp người, sau này nghĩ về thấy vui vui. Cũng như thế, khi ai đã giúp chú, khi cần thiết sự giúp đỡ, và được giúp, thì chú rất nhớ ơn, dù việc nhỏ hay lớn.


Chúc cháu an vui!


Chú DinhNgo

Thoi gian

Xem hình này thấy rằng thời gian qua mau quá..


Ai tặng anh trái thơm,
Hơn nửa
là niềm thông cảm
Giữa cố nhân..

Các pháp vận hành
Đi qua, rồi đi mãi
Còn lại..
Là người tri kỷ
Niềm tri âm nào..

ĐN
..nhớ cây khế nào ở Chùa ĐNgộ

不可毀不可讚。
體若虛空勿涯岸。
不離當處常湛然。
覓即知君不可見。
取不得捨不得。
不可得中只麼得。
默時說說時默。
大施門開無壅塞

153-

Bất khả hủy, bất khả tán,
Thể nhược hư không vô nhai ngạn.
Bất ly đương xứ thường trạm nhiên,
Mịch tức tri quân bất khả kiến.
Thủ bất đắc xả bất đắc,
Bất khả đắc trung chỉ ma đắc.
Mặc thời thuyết, thuyết thời mặc,
Ðại thí môn khai vô ủng tắc







Không thể chê không thể khen,
Như hư không ấy vốn vô biên.
Tìm kiếm đã hay không thấy được,
Mà luôn trước mắt vẫn thường nhiên.
Lấy chẳng được, bỏ chẳng được,
Trong cái chẳng được gì là được.
Im thời nói, nói thời im,
Cửa đại thí mở thông thông suốt.

Thu va huy

 thù
 
hủy
 

Monday, 25 July 2016






Bàn tay
Ôm ấp
Cây xanh

Bàn tay
Điệu Ngộ
Và cả
Những bước chân
Mùa đông
Đẹp nhất!

ĐN
.. hôm nay đc đọc nhiều tin hay trên FB.. vui

Haiku



1.
Các pháp tự sắp xếp,
Mình lại trỡ lại mình!

2.
Câu nhận xét vui vui
Câu đáp hồi âm mau mắn
Ôi thời gian nào chờ,
Đến giờ room sẽ đóng!

3.
Hôm nay trù trì ngôi Chùa
Báo tin vui
Bản vẽ đã nộp
Sáu tuần chỉ cần chờ!

4.
Từ hôm qua
Không vô trang web kia được
Có lẽ trục trặc..

ĐN

Sunday, 24 July 2016

Topic



 macchiato, firenze


 Eiscreme, Italien



Tản mạn về làm MC trong mot Forum, huong dan mot De tai Phat Phap

1. Forum Phat phap la 1 moi truong tin nguong. Chú ý lễ nghi, nhưng đơn giản.
2. Khi noi ve 1 de tai, vi du nhu 1 bai kệ của 1 thiền sư ( Chung dao ca) chú y:
a. Thông tin về ngữ (hán-việt) và y nghia (giáo lí)
b. có thể nới rộng ra về ngôn ngữ hay giáo lí. Tùy duyên.
3. Chính yếu là chính mình trình bày, vì ít ai muốn chia sẻ khi còn quá sớm và ít người
4. Khi có những ai muốn chia sẻ thì trân trọng mời họ.
5. Phần giải lao, tốt nhất để nhạc hòa tấu và nhạc không lời.
6. Cho thân mật, có thể thông tin về đời sống, thời tiết đại khái.
7. Nắm vững nội dung bài Kệ trước khi khai mạc.

DN

Tuyet

Tuyet
 
 親愛溫柔的人聽到多
愛一個人,非常動盪

Thân ái ôn nhu đích nhân thính đáo đa,
Ái nhất cá nhân, phi thường động đãng

--
Thương ai đó nghe nhẹ nhàng lắm, 
Yêu ai đó, sóng gió vô cùng!
 
 


雪山肥膩更無雜。
純出醍醐我常納。
一性圓通一切性。
一法遍含一切法。
一月普現一切水。
一切水月一月攝。
諸佛法身入我性。
我性同兯如來合。

139-
Tuyết sơn phì nhị cánh vô tạp,
Thuần xuất đề-hồ ngã thường nạp.
Nhất Tánh viên thông nhất thiết Tánh,
Nhất pháp biến hàm nhất thiết pháp,
Nhất nguyệt phổ hiện nhất thiết thủy,
Nhất thiết thủy nguyệt nhất nguyệt nhiếp
Chư Phật Pháp Thân nhập ngã Tánh,
Ngã Tánh đồng cộng Như Lai hiệp.

Cỏ phì-nhị đơm ròng đỉnh Tuyết,
Vị đề-hồ ta từng nếm biết.
Một Tánh viên thông muôn Tánh hệt
Một pháp bao gồm muôn pháp hết,
Một trăng hiện khắp tất cả nước,
Tất cả trăng nước một trăng nhiếp,
Chư Pháp Thân Phật vào Tánh ta,
Tánh ta cùng với Như Lai hiệp.