Đọc sách
ĐỪNG TIN VÀO NGẪU TƯỢNG!
Tri thức là sức mạnh!”:
câu khấu hiệu dứt khoát như I tiếng
kèn xung trận của nam tước Francis Bacon (1561 -1626) đánh dấu
bước ngoặt từ thời Trung cố châu Âu sang thời hiện đại. Tri thức là hoa trái.
Nhưng, muốn thu hoạch vụ mùa, trước hết phải vun xới mảnh đất trồng trọt, gạt
hết sỏi đá, cỏ gai.
Gần 20 năm trước Luận văn về
phương pháp (1637) của René Descartes, 70 năm trước Luận
văn về sự hiểu biết của con người (1689) của John Locke, một
thế kỳ rưỡi trước Phê phán lý tính thuần tuỷ (1781)
của Immanuel Kant, Bacon đã đặt viên đá đẩu tiên cho tư duy khoa
học hiện đại với tác phẩm Công cụ mới (Novum Organum -
1620).
Bốn ngẫu tượng bắt tù binh
Tại sao đặt tên là Công cụ
mới?
Rõ ràng Francis Bacon muốn
biên soạn một công trình để đối trọng với bộ Công cụ lừng danh
suốt gấn hai ngàn năm của Aristoteles. Bacon hoài nghi cả quyển
uy tưởng như bất khả xầm phạm của Aristoteles, không còn tin
vào logic học và triết học Aristoteles nữa, và muốn đặt một
cơ sở mới mẻ cho việc thu hoạch tri thức thực sự vững chắc. Nhớ ơn bậc tiền
bối, Immanuel Kant đã trần trọng trích dẫn một cầu nói
của Francis Bacon làm để từ cho ấn bản lẩn thứ hai quyển Phê
phán lý tính thuẩn tuý (1787) bất hủ của mình.
Bacon dành phẩn thứ nhất
của Công cụ mới để làm công việc “dọn sạch mặt bằng”:
vạch trần những nguyên nhân tâm lý gầy ra lầm lẫn của con
người. Những thái độ sai lầm - từ đó nảy sinh những lỗi tư duy - bị ông gọi là
những ngẫu tượng (idole). Ngẫu tượng là một hình ảnh bám rễ rất sầu, chiếm lĩnh
tinh thẩn con người, được tôn thờ nhưng lại không có thực chất nào cả và là
những rào cản cho nhận thức. Ngẫu tượng là thần tượng giả mạo. Với cách đặt vấn
đề như thế, Bacon không chỉ là người mở đấu cho thuyết duy nghiệm mà
còn khai sinh môn tâm lý học hiện dại.
Trong “Cách ngôn” thứ 39 thuộc phẩn
đầu của quyển sách, F. Bacon viết:
“Có bốn loại ngẫu tượng bắt đầu óc
ta làm tù binh...: loại thứ nhất là ngẫu tượng Bộ lạc, loại
thứ hai là ngẫu tượng cái Hang, loại thứ ba là ngẫu tượng
cái Chợ và loại thứ tư là ngẫu tượng Sân khấu".
Ngẫu tượng Bộ lạc thuộc
về bản tính chung của loài người. Ngẫu tượng cái Hang nảy sinh
trong đẩu óc cá nhân mỗi người. Loại thứ ba (cái Chợ) là những sai lầm liên
quan đến ngôn ngữ, và loại thứ tư (Sân khấu) là do sự nguy
biện và khiếm khuyết về học vấn. Ông dùng hình ảnh “sân khấu” với tấm màn nhung
của nó như là một biểu trưng cho bao tấn"trò đời. Không phải ngẫu nhiên
khi cuối thế kỷ 19, người ta cứ nghĩ ông mới là tác giả đích thực của những vở
kịch mang tên Shakespeare!
Ngẫu tượng Bộ lạc
Bacon xem đây là nguồn gốc chủ
yếu của những sai lấm bắt nguồn từ... “phần cứng” của con người, tức những gì
nằm trong bản tính tự nhiên và cấu trúc sinh học của loài người. Trước hết,
những ấn tượng của giác quan cũng như những chiến lược tư duy của ta để xử lý
những ấn tượng ấy thường không phản ánh đúng thực tại, mà chi phản ánh những
thước đo chủ quan của chúng ta. Giống như một tấm gương kém chất lượng phản ánh
méo mó thực tại, đầu óc ta trộn lẫn những điểu bất cập của bản thân với những
gì ta nhận biết được vể bên ngoài. Hậu quả thứ nhất: ta thường có thói
quen giản lược hoá mọi việc, ưa chuông những sự phân loại hời hợt.
Lý do là vì ta muốn nhận ra
trật tự và quy luật ở khắp nơi, ngay cà khi chúng không thực sự tồn tại. Ảo
tưởng này về trật tự và tính bền vững ngăn không cho ta nhận ra rằng nhiều sự
vật và tình huống thực ra là duy nhất và độc đáo. Do dó, phản ứng của ta cũng
hời hợt và bất túc. Khoa học dã phải trả giá nhiều cho căn bệnh này: chẳng hạn,
ta cứ muốn di tìm một cách giải thích đơn giản cho hầu hết mọi hiện tượng vật
lý. Thuyết tương đối, cơ học lượng tử, thuyết hỗn độn... mới làm thay đổi lối
nhìn này trong thời gian gần đây mà thôi.
Hậu quả thứ hai: một khi đã chấp
nhận quan điểm nào đó là đúng - do sở học hữu hạn hay do quan niệm phổ biến của
một thời đại, ta chỉ muốn đi tìm những bằng chứng để bảo vệ quan điểm ấy, và
sẵn sàng nhắm mắt trước những bằng chứng hay kinh nghiệm ngược lại. Rất nhiều
những điều xác tín và cả mê tín trong nhận thức thường ngày của ta sẽ - bằng
cách tinh vi hơn - thâm nhập nhận thức khoa học và thế giới quan của ta nữa.
Nói khác đi, đầu óc con người ưa thích điểu tích cực, ghét điều tiêu cực, hơn
là dám nhìn thẳng vào sự thật, bởi luôn quên rằng cái tiêu cực, phủ định cũng
hết sức cần thiết trong việc di tìm sự thật.
Hậu quả nữa là khái quát hoá và trừu
tượng hoá một cách vội vàng. Những ấn tượng mạnh hay những kinh nghiệm bản thân
dễ dàng trở thành những kết luận chung và tiêu biểu: bị một ai đó lừa gạt hay xâm
phạm, ta ác cảm một cách vô thức với tất cả những ai thuộc giới ấy! Qụá tin vào
những gì mắt thấy tai nghe, ta sẵn sàng phủ nhận sự tổn tại của những gì nằm
ngoài phạm vi ấy: chính diều này đã làm chậm lại rất nhiều những phát kiến của
khoa học như về vi trùng, các hiện tượng điện từ, hạt nhân v.v. Rõ ràng, việc
thiếu dữ liệu thường nghiệm lúc ban đầu chưa nói lên được điểu gì về sự tồn tại
hay không tổn tại của sự vật.
Tình và lý
“Tình” nói ở đây là xúc cảm chủ
quan. Đọc một quyển sách hay học một người thầy có ác cảm hoặc thiện cảm với
một vấn để gì, ấn tượng ấy có thê’ đeo bám ta suốt đời. Nó cũng là sự yếu đuối
của bản thân trước những sự việc hay tình huống gay go, bởi việc đương đấu với
chúng đòi hỏi quá nhiều nỗ lực và thử thách. Việc làm ấy có thể đe doạ làm sụp
đổ ảo tưởng của ta, buộc ta phải thách thức và xung đột với những quyển uy đã
được xác lập. Trong khi đó, thời hiện đại đối diện với nhiều vấn để chưa từng
có, đòi hỏi phải có những cách nhìn nhận và những giải pháp tỉnh táo, phi quy
ước.
Bacon sẽ bàn tiếp vể ngẫu tượng
thứ hai: đừng tiếp tục đào hang cho chính mình!.
CON CÓC
TRONG HANG...
Mượn
hình ảnh con cóc và cái hang, ta chỉ muốn nhớ lại thân phận tù túng và tầm nhìn
thiển cận của mỗi người chúng ta như những tù nhân bị trói chặt, mắt chỉ được
nhìn về một hướng trong dụ ngôn Hang động nối tiếng của Platon (Platon và
việc thực hiện ý tưởng, trang 33). Francis Bacon dựa vào ấn dụ
này đế bàn tiếp v'ê nguồn gốc thứ hai gây nên những sai lầm của ta: ngẫu tượng
Cái hang.
Từ trong hang tối
Bên
cạnh việc quá tin vào giác quan như thói quen thuộc bản tính chung của loài
người (ngẫu tượng Bộ lạc), ngẫu tượng Cái hang nói lên các đặc điểm và các
chiến lược tư duy tiêu biểu của mỗi cá nhân. Chúng sẽ dẫn dắt ta đến chỗ phạm
sai lầm do những nguyên nhân chủ quan. ‘‘Mỗi người chúng ta đểu có một cái hang
hay một sào huyệt của riêng mình” và tất nhiên, chỉ có thể nhìn sự vật từ tấm
nhìn của... con ếch ngồi đáy giếng. Chính cấu trúc thể xác và tinh thần của ta
- chịu ảnh hưởng của nguồn gốc xuất thân, của nền văn hoá, giáo dục và kinh
nghiệm bản thân - sẽ “khúc xạ và xuyên tạc ánh sáng tự nhiên”. Tầm nhìn hạn hẹp
ấy là bộ lọc cho tất cả những gì ta thấy, nghe, đọc hay trao đổi với người
khác... Bacon
nêu ra mấy biểu hiện
chính yếu:
-
Ta
thích nhấn mạnh và để cao quá mức những cách nhìn hay cách nghĩ nào trùng hợp
với tri kiến thiển cận của mình. Ta đánh giá những tri thức của cá nhân mình
cao hơn
tri thức của người khác, từ đó, bám chặt vào những lý thuyết và hệ tư
tưởng do chính mình tạo ra hay được mình xác tín. Tuỳ theo cấu tạo tinh thần của
mỗi người, hoặc ta ưa tìm tòi và nhấn mạnh những điểm dị biệt trong sự vật hoặc
chỉ thích tập trung vào những chỗ giống nhau. Cả hai thái độ thường dẫn đến sự
cực đoan trong mọi việc phán đoán và đánh giá.
-
Một
mặt, ta dễ đánh mất mình trong những chi tiết, thấy cầy không thấy rừng. Thái
cực ngược lại là thấy rừng không thấy cây. Có người cực kỳ yêu chuộng và sùng
bái những gì cổ xưa, truyền thống; có người lại chỉ ham thích cái mới, cái thời
thượng. ít có ai thực sự đạt được một sự cân bằng giữa hai cách tiếp cận khác
nhau ấy. Hậu quả là những gì đã có cơ sở vững chắc sở dĩ bị từ khước chỉ vì
chúng cũ và không mới: “ta đổ xô đi phát minh cái bánh xe!”. Ngược lại, cái mới
thường bị nghi ky và phản bác chỉ vì nó... mới và không tương thích với lối
nhìn cổ truyền và định kiến đã bám rễ quá sâu. Thật khó đi tìm cho được những
gì có giá trị lâu bền, thay vì bám vào những quan niệm nhất thời!
-
Chúng
ta gắn bó với một ngành nghề, một học thuyết,
một
tín ngưỡng vì ta quá say mê vị tổ sư, nhà sáng lập và những thành tựu trong quá
khứ của nó, cũng như vì ta đã dành gần trọn đời để theo đuổi, chịu bao gian khổ
và đã quá quen thuộc với nó. Mang tâm trạng này đi vào các lĩnh vực có tính
khái quát cao như triết học hay khoa học, người ta dễ bóp méo sự thật, gò ép
thực tại cho phù hợp với sơ đổ tư duy của mình. Bacon
nhìn thấy điểu ấy đã xảy
ra ngay cả với những nhà đại tư tưởng như Aristoteles: triết học tự nhiên cùa ông chỉ là...
con sen cho logic học của ông. Ta nhớ đến nhận định khét tiếng của Hegel, một đại triết
gia khác: nếu sự kiện không đúng với lý thuyết, thì đó là... lỗi của sự kiện!
Nếu sự thật hay
ánh sáng chỉ có thể có ở bên ngoài cái hang - như cách nhìn của Platon - thì không
lạ gì khi còn ở trong hang, ta ẳt sẽ xem chúng là những gì vô nghĩa,
hoặc nếu có bàn vế chúng, ta chỉ bàn vể những gì vô nghĩa. Từ mấy thế kỷ
trước, cách đặt vấn đề của Bacon vô hình trung đã dự đoán được cao
trào phê phán siêu hình học - được gọi là “tư duy hậu - siêu hình học” - từ
cuối thế kỷ 19 và trong thế kỷ 20!
Con cóc ngồi
đó...
Một trở lực khác trên con đường đi tìm chân lý từ cái hang bé
nhỏ của mình là quen nhầm tưởng ước mơ của mình là thực tại. Con tôi, món hàng
của tôi, thành phố của tôi, đất nước tôi, nền văn hoá của tôi là... nhất! Xu
hướng tự mãn đầy huyễn hoặc và đơn giản hoá này không hằn do lười biếng. Ngay
những người chăm chỉ, cần cù nhất cũng rất SỢ nhìn vào sự thật, khi nó đe doạ
làm sụp đổ ảo tưởng của mình. Yêu ảo tưởng nhưng luẩn quẩn, bất lực là cố tật
của... con cóc trong hang: “con cóc nhảy ra, con cóc ngôi đó, con cóc nhảy
đi...”
Nguy
hiểm hơn cả, theo Bacon, là quá xem trọng kinh nghiệm bản
thần. Một mặt, kinh nghiệm bản thân là quan trọng, vì không có gì thay thế được
nó cả. Nhưng mặt khác, nó trở nên nguy hại khi ta dùng nó để tự bịt mắt mình và
phê phán tất cả những gì bản thân mình chưa nếm trải. Kinh nghiệm bản thần là
con dao hai lưỡi. Nó vừa giúp ta không ngây thơ trở thành nạn nhân của những
huyền thoại, nhưng cũng cản trở không cho ta kịp thời nhận ra những chần trời
mới, những giải pháp mới. Biết bao những “trò lập dị thời thượng” vốn bị chế
nhạo hay khinh miệt lúc ban đẩu rút cục đã trở thành những đôi hài bảy dặm mang
lại những tiến bộ vượt bực trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đi kèm với lợi
quyền, kinh nghiêm bản thân hẹp hòi càng nguy hiểm và là lực cản ngoan cố nhất
đối với sự tiến bộ. Bởi vì, trong trường hợp đó, dù mang chiếc kính màu hống
hay màu đen, kết quả vẫn là một: lấy thiên kiến chủ quan thay cho sự đánh giá
khách quan, thủ tiêu mọi sự phê phán, đối thoại.
“Tư duy phản biện”
Các
nhận xét thẳng thắn của Bacon là một bộ phận trong di sản quý báu
góp phần hình thành môn học đang rất phổ biến đầu thế kỷ 21: môn tư duy phản
biện (critical thinking). Nguyên tắc và mục đích của môn học
này đã được Bacon nêu rõ: “Ta không được phép thu hẹp vũ trụ cho vừa vặn với
ranh giới của năng lực hình dung của ta, như cách làm quen thuộc trước nay.
Trái lại, ta phải mở rộng biên cương của tri thức để đủ sức nắm bắt được chân
tướng của vũ trụ”.
LƯỠI KHÔNG XƯƠNG...
Trăng lặn. Mặt trời mọc...”, cách nói
quen thuộc và đầy hình tượng ấy thật ra... không đúng. Mặt trời chẳng từ đâu mọc
lên và mặt trăng chẳng lặn đi đâu hết! Những "sai lầm” mang lại sự linh hoạt,
hấp dẫn cho ngôn ngữ và văn chương nghệ thuật sẽ không còn vô hại khi đi vào thế
giới khoa học.
Hiểu ngôn ngữ như là phương tiện truyền thông, Francis Bacon yêu cấu sự chính xác và gọi những sai lầm ấy là ngẫu tượng
cái Chợ. Từ gợi ý của Bacon, thế kỷ 20 còn nhận ra rằng ngôn ngữ
không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn là không gian hành động xã hội tạo
nên sự cảm thông, đoàn kết cũng như gây ra bao thị phi, xung đột và áp bức.
Ngôn ngữ ẩn giấu nguy cơ to lớn: khả năng xuyên tạc, lừa dối và thống trị.
Trong gọng kềm ngôn ngữ
Tư duy của chúng ta gắn liền với việc sử dụng ngôn ngữ.
Vì
thế, hầu như rất khó thoát khỏi những ảo tượng và những chiếc bẫy rập có nguồn
gốc sâu xa trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ngôn ngữ là những quy ước và là
một bộ phận cấu thành của văn hoá tư duy. Khi đấy rẫy khiếm khuyết, chúng là
các rào cản tinh thẩn thật khó vượt qua để đi đến chân tướng của sự vật. Ta rất
muốn tin rằng chính tư duy của ta là kẻ làm chủ ngôn ngữ. Khổ nỗi, sự thật
thường ngược lại.
Việc
sử dụng ngôn ngữ bắt nguổn từ lời nói thường ngày, vốn có xu hướng giản lược.
Những ngộ nhận nằm ngay trong cấu trúc và nội dung định nghĩa của những ngôn
từ. Có thể nói ngôn ngữ là một loại “phần cứng” quy định ranh giới cho “phần
mềm” là những tư tưởng của ta. Ta chỉ có thể suy nghĩ những gì ngôn ngữ chúng
ta cho phép, và ta khó đi đến những sự phân loại và phân biệt nào không nằm sẵn
trong cấu trúc của ngôn ngữ chúng ta.
Theo Bacon, ngôn ngữ dẫn dắt ta đến sai lẩm chủ
yếu bằng hai con đường:
-
Ta
đặt tên cho những sự vật không hề có thực, nhưng những tên gọi này lại có ảnh
hưởng rất lớn đến tâm tư và cách hành xử của ta. Không chỉ... “Ông Địa”, “Thần
Tài” mới mang lại bao niềm vui và nỗi buồn cho những vị... ham đánh đề, mà cả
những khái niệm có vẻ rất khoa học cũng đã không ngừng đánh lừa những đẩu óc
khoa học. Chẳng hạn, hàng thế kỷ, nhiều nhà khoa học tin vào một chất “ether” nào đó
như là mồi trường vận động của vật chất, trước khi tỉnh ngộ rằng nó chi là một
sản phẩm hoang đường.
-
Mặt
khác, ta lại có rất nhiều từ ngữ để đặt tên cho những sự vật có thực, nhưng do
sự trừu tượng hoá vụng vể hay diễn dịch vội vã từ thực tại, các từ ngữ ấy rất
mơ hồ, bất định, không chính xác. Ngẫm nghĩ xem, bạn sẽ dễ dàng phát hiện vô số
những từ ngữ thuộc loại ấy. Thêm vào đó, ta thường sử dụng
ĨRO(HUỴ[HTRIÍTHO(
♦ 129
nhiều từ ngữ theo quán tính mà ít khi tiến hành quan sát và phần tích nội
dung thực sự của chúng. Chẳng hạn, ta dễ nhận ra một nhà lãnh đạo có tài, nhưng
không dễ dàng chút nào để xác định một cách khách quan những phẩm chất lãnh đạo
để thực sự hiểu những gì đã tạo nên mệt nhà lãnh đạo như thế, và xét xem, liệu
những phẩm chất, năng lực ấy có thể truyền đạt hay huấn luyện được hay không.
Ta cũng dễ dàng cả tin vào những “huyền thoại” chỉ vì chúng đưực phát biểu hay
trình bày một cách hào nhoáng. Xu hướng này bắt nguồn từ ảo tưởng rằng sự vật
hay công việc nhất định sẽ mang lại những thành quả tốt đẹp chỉ nhờ chúng được
khoác lớp vỏ ngôn ngữ trịnh trọng, khả tín.
Ngẫu
tượng cái Chợ dựa trên lòng tin sai lầm rằng những gi mọi ngứời xem là đúng thì
cũng tự động là đúng! Giống như ở giữa chợ, ta “mua” những từ ngữ và ý tưởng
của người khác, và “bán” cho họ những từ ngữ và ý tưởng của ta. Bao lầu mọi
người đểu hài lòng thì mọi việc đều ổn thoả. Những quy ước ngôn ngữ có sức mạnh
khủng khiếp, mặc dù không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tại. Chính vì
thế, vào buổi bình minh của nển khoa học hiện đại, Francis Bacon là người đầu tiên nhấn mạnh đến yêu cầu phải làm cho ngôn ngữ
được trong sạch và chính xác. Theo ý nghĩa đó, ngẫu tượng cái Chợ là một ẩn dụ
quan trọng khác trong lịch sử của tư duy phản biện, vì nó minh hoạ sự cẩn thiết
của việc làm cho tư tưởng được trong sáng, điều kiện tiên quyết cho tư duy khoa
học.
“Bước
ngoặt ngôn ngữ học”
Ngẫu
tượng cái Chợ còn gựi ý nhiều khía cạnh hệ trọng khác nữa của ngôn ngữ. Chúng
có nguồn gốc xa xưa từ cuộc
tranh
luận triết học sôi nổi nhất ở thời trung cồ, rồi được đào sâu và phát
triển trong triết học hiện đại. Từ chỗ xem tư duy đi trước ngôn ngữ, xem khái
niệm (như là sản phẩm của tư duy và là bản chất bền vững của sự vật) đi trước
từ ngữ (như cái vỏ quy ước nhất thời của khái niệm), triết học hiện đại hầu như
có cách nhìn ngược lại. Chính cách nhìn mới mẻ ấy đã thực sự tạo ra một cuộc
cách mạng trong triết học: từ nền triết học lấy ý thức làm trung tầm (với tư
duy là hình thức cao cấp nhất) chuyển sang nền triết học lấy ngôn ngữ làm trung
tâm. Cuộc cách mạng ấy được gọi là “bước ngoặt ngôn ngữ học” trong triết học
đương đại. Ta sẽ còn có dịp đề cập những vấn đề rất phức tạp và thú vị này. Ở
đây, tiếp theo mạch suy nghĩ của Bacon, chỉ xin nhấn mạnh thêm hai điểm liên
quan đến ngẫu tượng cái Chợ.
“Thơn
thớt nói cười”...
Sở
Khanh dùng lời đường mật để đưa Kiều vào bẫy. Khi họ Sở cam kết Nàng đà biết
đến ta chăng, bể trầm luân lấp cho bắng mới thôi! và hẹn hò giờ giấc cụ thể
để dẫn Kiều “trốn thoát”, những lời nói ấy không đơn thuần truyền đạt thông tin
mà còn thực hiện một hành động lừa bịp đẩy ác ý - Bể ngoài thơn thớt nói
cười, mà trong nham hiểm giết người không dao. Triết học hiện đại dành cho
hiện tượng này một thuật ngữ chuyên môn: “hành vi ngôn ngữ”. Cam kết, hứa hẹn,
tuyên bố, ra lệnh... ngôn ngữ còn là hành vi gây ra hậu quả, chứ đâu phải chỉ
là lời nói gió bay! Kể sao hết bao nhiêu tội ác và bao nhiêu nạn nhân của trò
chơi ngôn ngữ, của việc đánh tráo và lạm dụng khái niệm. Thêm nữa, ngôn ngữ
càng có sức biểu cảm bao nhiêu, càng dễ mang tính bạo lực bấy nhiêu. Ca tụng
lên tận mây xanh hoặc vùi dập xuống bùn đen, ngôn ngữ đểu phô bày tính bạo lực
của nó: gây ảo tưởng và khổ đau cho người khác. Xin cảnh giác: tiếng Việt đẹp
đẽ và thâm thuý của chúng ta cũng là một ngồn ngữ rất giàu tính biểu cảm!
LƯỠI KHÔNG XƯƠNGs
Trò chơi “bịt mắt bắt dê” không mất đi
cùng với tuổi thơ! Khi lớn lên, thay vì chịu bịt mắt bằng mảnh vải để vui đùa,
ta lại tự nguyện để cho những định kiến và những niềm xác tín chắc nịch làm cho
mình... có mắt như mù.
Khác với ba ngẫu
tượng trước đây (ngẫu tượng Bộ lạc, ngẫu tượng cái Hang, ngẫu tượng cái Chợ) có
nguồn gốc từ bản tính tự nhiên của con người và những giới hạn khách quan của
ngôn ngữ, sai lẩm lần này do ta tự chuốc lấy một cách tự nguyện. Francis Bacon gọi đó là ngẫu tượng Sần khấu.
Cuộc hí trường
Bacon viết: “Tôi đặt tên là ngẫu tượng Sần
khấu, vì, theo tôi, tất cả những hệ thống (triết học và tri thức) mà ta tiếp
thu đều chỉ là những vở kịch nhiều hồi được dàn dựng theo sự hư cấu”. Cách viết
khá cực đoan và gay gắt ấy thực ra là để cảnh báo một việc: phẩn lớn những điểu
xác tín của ta về thế giới quan lẫn nhân sinh quan đểu không bắt nguồn từ sự
suy nghĩ chín chắn. Ta thản nhiên chấp nhận những gì do truyền thống văn hoá và
giáo dục của ta mang lại, mà ít khi chịu phản tỉnh hay dám phê phán. Chấp nhận
quyển uy và giá trị hiệu lực của truyền thống đã được xác lập tức là cũng dễ
dàng chấp nhận cả những sai lẩm và khiếm khuyết của nó. Không có gì quyến rũ
hơn là những ý tưởng đã chứng tỏ ít nhiều thành công trong quá khứ. Cũng không
có gì lầm lẫn hơn là tưởng chúng sẽ vĩnh viễn có giá trị và bảo đảm những thành
công trong tương lai.
Bacon thường tỏ ra “bất kính” trước di sản
tư tưởng quá khứ. Điều này có thể hiểu được từ tính cách cứng cỏi của riêng
ông, nhưng cũng từ phản ứng quyết liệt trước môi trường sinh hoạt tinh thẩn còn
rất độc đoán và mê tín của thời đại ông. Tuy nhiên, nhiều nhận định phê phán
của ông vể những tín điểu và những hệ thống tư tưởng đang thống trị lúc bấy giờ
vẫn không mất đi tính thời sự. Bacon nhận thấy có ba hệ thống hay ba lể
lối tư duy chủ yếu mang đặc trưng của ngẫu tượng này: giáo điểu, duy nghiệm và
mê tín.
-
Hệ
thống hay lể lối tư duy “giáo điều” thường đến từ trường phái duy lý. Theo Bacon, nhà nguy
biện giáo điều ít khi chịu kiểm nghiệm những phán đoán và kết luận của mình
bằng thực tại và kinh nghiệm. “Họ thường có kết luận từ trước chứ không chịu
tham khảo kinh nghiệm mà lẽ ra phải làm, rồi áp đặt vấn đề theo ý muốn của
mình, và khi cần viện dẫn kinh nghiệm thì cố uốn nắn cho phù hợp với sơ đồ có
sẵn”. Ông dám nêu đích danh trường hợp điển hình là Aristoteles, một bậc
“vạn thế sư biểu” của phương Tầy! May cho nhiều nhà tư tưởng sinh sau ông!
-
Hệ
thống hay lể lối tư duy duy nghiệm quá tự tin vào
một số kết quả nghiên cứu thường nghiệm và rồi cũng hấp tấp rút ra những
kết luận và những nguyên tắc phổ quát không đủ cơ sở. Ví dụ điển hình đương
thời là những kết luận “động trời” của môn giả kim, tiền thân của ngành hoá học
ngày nay. Bacon thường kể trường hợp nồi tiếng của William Gilbert (yểtừtính,
1600): sau một số công trình nghiên cứu khá cặn kẽ về các đặc tính của nam
châm, Gilbert khái quát hoá vội vàng và liều lĩnh, rằng quỹ đạo của những
hành tinh xoay quanh mặt trời có được là nhờ từ tính!
-
Sau cùng, những sai lầm từ sự “mê tín” còn phổ biến hơn nữa và cũng là nguy
hiểm nhất. Những “sư tổ” trong lĩnh vực này thường trộn lẫn chần lý với thần
thoại, kinh nghiệm với hoang tưởng, tri thức với lòng tin. Bacon nêu
tên Pythagoras (triết gia và nhà toán học cố Hy Lạp tin vào sức mạnh thần bí
của con số) như trường hợp điển hình.
Con nhện, con kiến hay con ong?
Nhìn chung, bốn loại ngẫu tượng mà ta vừa làm quen không chỉ
là những chỉ báo về sự yếu đuối và dễ phạm sai lầm của con người nói chung, mà
trước hết, nói lên nỗ lực tự phê phán của bản thân Bacon, một tượng
đài sừng sững mở đấu thời cận đại. Ý nghĩa then chốt của nỗ lực này là việc
nhận ra rằng: tư duy phê phán không phải là cái gì tự nhiên, trái lại, đòi hỏi
lao động trí tuệ vừa dũng cảm, vừa kiên trì. Bacon
kết luận công cuộc khảo
sát của mình về các trở lực này như sau: “Ta không thể nào chia tay được với
những sai lẩm và ngẫu tượng này, bởi chúng gắn liền với bản tính tự nhiên và điểu
kiện sinh hoạt của chúng ta; vậy, chỉ có sự quan tâm thường xuyên đến
chúng mới là điều hệ trọng bậc nhất đế điểu chỉnh nhận thức”.
Tuy
chỉ mới là một nhân vật giao thời giữa nến siêu hình *học cổ truyền và nền
triết học/khoa học hiện đại, Francis Bacon dành cho hậu thế một lời khuyên đáng
giá: không nên làm như con nhện chỉ đơn độc nhả tơ từ những gì có sẵn bên trong
chính mình (như các nhà giáo điểu), hay như những con kiến chỉ biết cẩn mẫn thu
thập chất liệu (như các nhà duy nghiệm thuần tuý) mà hãy nỗ lực xử lý và tinh
chế chất liệu như con ong tạo mật từ trăm hoa.
Suy
nghĩ một cách có phê phán, nói một cách mạch lạc, viết một cách rõ ràng, đó là
ba phương chầm được nêu ra từ 400 năm trước như những yêu cầu đấu tiên trên con
đường lao động trí tuệ để hy vọng có được chút mật ngọt của tư duy.