Saturday, 14 November 2020

Tặng Ngộ

 



Bài thơ còn lại 
 
chép tặng Ngộ, đây là những vần thơ mà DN
từng thích..

Bước rất nhẹ như mây mềm dưới gót
E nắng buồn làm rối tóc mưa ngâu
Em tìm anh nước uốn nhịp ven cầu
Năm tháng cũ rợn tình xưa tỉnh thức
 
Em vẫn bé, anh vẫn còn ngây ngất
Màu áo hường còn gợn sóng âm thanh
Mắt thuyền qua nên nón vẫn nghiêng vành
Chân cuống quýt nên guốc giòn gõ cửa
 
Anh mở vội cả nghìn lần hớn hở
Cho hồn nhiên, mắc cỡ với hoài nghi
Em cúi đầu và lặng lẽ bước đi
Từ hôm ấy cửa nhà anh bỏ ngỏ
 
Bước rất nhẹ như hường qua sắc đỏ
Như màu trời len lén bước vào xanh
Như thời gian vò nát lá thư tình
Bước rất nhẹ như vẫn còn đứng lại
 
Bước rất nhẹ như mùa Thu con gái
Như bàn tay khẽ hái tiếng đàn tranh
Như chưa lần nào em nói: yêu anh
Như mãi mãi anh còn nguyên thương nhớ
 
Bước nhè nhẹ như bóp mềm hơi thở
Như ngập ngừng chưa nỡ xé chiêm bao
Em có về ăn cưới những vì sao
Để chân bước trên giòng sông loáng bạc
 
Ở một chỗ tưởng chừng như đi lạc
Yêu một người mà cảm thấy mênh mông
Em đi ngang nhịp bước có lạnh lùng
Mà sao vẫn y nguyên bài thơ cũ?
 
Vẫn lặng lẽ để anh nghe vừa đủ
Vẫn thờ ơ cho rủ hết màn the
Vẫn mỉm cười rồi vẫn lấy tay che
Cho cặp mắt bỗng nhiên mười sáu tuổi
 
Tay vụng quá nên thư không viết nổi
Mực trong bình như cẩm thạch ngẩn ngơ
Giấy trắng tinh đem bóc nhẹ từng tờ
Tầu bay giấy ngượng ngùng bay ra cửa!
 
Em nguyên vẹn là bài thơ bé nhỏ
Anh còn nguyên là một kẻ yêu em
Em đi ngang xin ráng bước cho êm
Đừng đánh thức thời gian đang ngủ kỹ
 
Đừng đẹp quá để anh đừng rối chỉ
Lấy gì đây khâu vá lại tình xưa?
Có đi ngang xin chọn lúc bất ngờ
Đừng nói trước để anh buồn vơ vẩn
 
Có đi ngang xin em đừng đánh phấn
Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai
Mắt vương tơ của những phút học bài
Tay kheo khéo khi đánh chuyền với bạn
 
Em giấu đi những nỗi lòng vỡ rạn
Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi
Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê
Những ngõ vắng, tối tăm anh giấu hết.
 
Hoàng Anh Tuấn
 

Wednesday, 11 November 2020

em Năm


 

 

1.

Em Qúy

Đã mất từ lâu rồi

Khi nhớ nghĩ về em

Mình rất thương

Kí niệm với em

Ổ Đà Nẵng trong thời thơ ấu

Ổ Đà lạt, Bảo Lộc

Pleiku..

 

Có nhiều điều để nói về em

Về anh em mình!

 

2.

Có người em để anh thương

Bên nhau chia sẻ vấn vương một thời

Thuở bình sinh sống nghĩa tình

Em đi anh nhớ ân tình chú em 


ĐN

 

Wednesday, 28 October 2020

Bão số 9 Molave



Cơn bão số 9

Molave 

Tưởng là chỉ đem hại!

Nào biết, nó cũng đem lợi ích:

1/ Làm người ta xích lại gần nhau.

2/ Hiểu thêm về sức mạnh của thiên tai.

3/ Thêm hiểu biết về khí tượng

4/ windy.com

5/ Bão là gì?

6/ Phải làm gì để tránh bão.

ĐN


Friday, 23 October 2020

Viết đi

 


 

Có nhiều điều đáng viết

Vậy hãy viết

Khi mình còn viết được!

ĐN


Không chịu ngủ


 

Đã lên giường

Chưa chịu ngủ

Lại bước xuống

Tìm Dominican

Và ly cognac..

 

Ta vào làm bài thơ

Linh tính em đã về

Dấu chân chim nho nhỏ

Làm ta vui miên man!


ĐN


Thùng rác đã trống!


 

Sáng thấy thùng rác đã đầy

Tới bưng rác xuống vội đổ

Ai ngờ công nhân vệ sinh

Đã mang rác đi mất rồi

Thùng trống, tha hồ đổ!

Mừng lắm, tri ân người đổ rác!


ĐN

Trang FB của bạn


 

 

Sáng nay vào FB

Xem bài này bài kia

Thấy vắng bài của anh bạn

Mà ngày nào mình vẫn đọc

Tìm mãi có thông báo

Có thể trang không còn

Hy vọng nay mai sẽ

Xem trang ấy trỡ lại

Nếu không rất là buồn

 

ĐN


Wednesday, 21 October 2020

Nghe vẻ nghe ve..


 

 

Sư bà làm một bài vè

Để tặng cô bé dễ thương ngày nào

Ta đây thi thoảng nhớ về

Câu vè Điệu Ngộ càng thương 2 người


ĐN

để nhớ về ngôi chùa ở Huế thương yêu, nơi em đã sống một thời

Thursday, 15 October 2020

Bếp

 


1

Phát hiện trong bếp 

có chổ để tivi!

Do đó mình đã đem tivi đặt ở đó.

Thế là được 1 công 2 việc:

Vừa có thể xem tivi .. trong bếp

Vừa bớt chổ mà tivi chiếm 

trong phòng làm việc.

2

Kệ bên cửa sỗ bếp đã free!



Basho/ Vĩnh Sính và Haiku

 


Sẽ tìm hiểu bài này:

1. Đề tài
2. Mục lục
3. Tài liệu tham khảo
4. Có gi đáng khen?
--

Vẻ đẹp tịch liêu (sabi) trong lối lên miền Oku - Matsuo Basho

Nguyễn Thị Lam Anh

1. Đặt vấn đề

Basho là một haijin (người sáng tác haiku) nổi tiếng của Nhật Bản. Ông là người có công đưa haiku lên địa vị lừng lẫy trên thi đàn thế giới. Thi tập quan trọng góp phần định hình phong cách Tiêu phong (Tofu) cũng như giúp Basho trở thành một trong tứ trụ haiku Nhật Bản (Basho – Buson – Issa – Shiki) chính là Lối lên miền Oku (Oku no hoshomichi). Đây là một tác phẩm thuộc thể kí có lời kể, có chi tiết, sự kiện, có phác họa chân dung… nghĩa là có chất tự sự. Tuy nhiên, nó cũng thật sự là một tác phẩm trữ tình, với văn xuôi haibun kết hợp cùng thơ haiku, với những bức tranh tràn ngập hình ảnh thiên nhiên mà qua đó, cái tôi trữ tình của tác giả được bộc lộ vừa chân thành mộc mạc, vừa kín đáo tinh tế.

Hình ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomichi rất đa dạng, phong phú: từ hình ảnh mùa xuân đến mùa đông; từ không gian biển khơi đến rừng sâu, trời thẳm; từ cái nhỏ bé tầm thường như chấy bọ, vỏ hến, xác hoa đến cái lớn rộng vĩ đại như sông Mogami hay dải Ngân Hà… Hình ảnh trong Oku no hoshomichi không chỉ thể hiện vẻ cô liêu, quạnh hiu, u buồn mà còn thể hiện vẻ thanh tú, tao nhã, tươi đẹp, đam mê. Có lẽ vì vậy mà Basho được mệnh danh là “thi sĩ của cái ao xưa, của biển Sado hoang sơ hay của đồng cỏ dại”. Đây là những hình ảnh biểu tượng cho một vẻ đẹp lí tưởng mà mĩ học Nhật Bản gọi là sabi 寂び.

Về từ vựng, sabi 寂び vốn được danh từ hóa từ động từ sabu có nghĩa là suy tàn, phai nhạt theo thời gian. Sabi cũng có nghĩa là trạng thái tĩnh lặng khi con người qua đời cũng có nghĩa là lớp mốc xanh trên đồ đồng xưa. Fujiwara no Toshinari (1114-1204), Zeami (1363-1443), Zenchiku (1405-1468) thống nhất quan điểm cho rằng sabi là tịch lặng, hoang liêu, cô quạnh, tự nhiên (tịch). Zenchiku dùng từ sabu để miêu tả cảnh đám lau sậy ven biển lụi tàn vì sương gió. Sen no Rikyu – bậc thầy trà đạo XVI, thường ghép wabisabi để đề cao vẻ đẹp tự nhiên, đơn giản. Nhật Chiêu trong cuốn Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 nhấn mạnh: “Sabi (tịch) là linh hồn của tịch liêu và xa xưa. Đó là niềm tịch tĩnh mà trong những kinh nghiệm thiền quán, người ta cảm thấy” [4,273]. Trong cuốn tản văn Ca tụng bóng tối, Junichiro Tanizaki đã nêu lên niềm yêu thích của người Nhật dành cho những đồ vật mang dấu vết của bụi bặm, bồ hóng và khí hậu, màu sắc và lớp bóng gợi nhắc đến quá khứ đã tạo ra chúng, một vẻ đẹp nhuốm màu thời gian. Đến Basho, ngoài những ý nghĩa trên, nhà thơ đã bổ sung thêm ý nghĩa tươi đẹp, tao nhã, ấn tượng (nhã) cho sabi. Hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong tập Lối lên miền Oku có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần hòa tan bản ngã vào thiên nhiên của Thiền tông và tinh thần tìm linh hồn cái đẹp trong thảo mộc của Thần đạo. Cảm thức đó thể hiện đậm nét trong tập thơ đến độ được Nhật Chiêu khẳng định: “Mỗi bài haiku trong tác phẩm dường nhưđều thấm nhuần cảm thức sabi” [3,10]. 2. Nội dung nghiên cứu

Vẻ đẹp sabi ẩn hiện trong những hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu và thiên nhiên thanh tú, trang nhã.

2.1. Hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu

Chất cô quạnh sabi hài hòa man mác khắp các hình ảnh những ngọn núi, cánh đồng, những dòng sông, mặt biển… lộ rõ vẻ hoang sơ, cô liêu, quạnh hiu của tạo hóa sắp đặt cho miền Oku.

Ngày đầu tiên cất bước lên đường du hành, Basho nhìn đỉnh núi Fuji “mập mờ hiện ra trên bầu trời đầy sương mù, qua ánh trăng ban mai yếu ớt” mà lòng liên tưởng tới muôn nẻo Oku. Chính đỉnh núi Fuji ấy – vốn là hình ảnh lí tưởng trong cảm nhận Nhật Bản – đã báo hiệu cho những hình ảnh núi rừng Oku vẻ hiu quạnh, lạnh lẽo. Đỉnh núi Kurogami thì “hãy còn tuyết trắng chưa tan ẩn hiện trong sương mù”. Khu rừng Ki no shita thì “chắc hẳn sương mù phải xuống nhiều lắm nên thi nhân mới có câu: Hỡi anh samurai ơi! Nhớ đem theo dù cho Chúa nhé!”. Còn núi Gasan thì ngập trong “mây mù và khí núi lạnh lẽo”, băng tuyết phủ khắp làm lu mờ danh giới đất trời, khiến nhà thơ: “không biết phải chăng là mình sắp bước vào ải quan trên đường mây, nơi quỹ đạo của hai vầng nhật nguyệt gặp gỡ nhau?”. Vẻ cô quạnh của hình ảnh núi rừng như thấm vào da thịt bởi cảm giác lạnh lẽo: “Tôi cảm thấy khó thở và chân tay như cóng lại”. Hình ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomihi nằm trọn vẹn trong ba mùa xuân, hạ, thu mà cuộc hành trình sáng tác trải qua nhưng chính tuyết trắng và khí lạnh trong hình ảnh núi đã mang đến cho chúng ta cảm giác mùa đông. Tác phẩm thực sự như một bản sonat bốn mùa mà trong đó hình ảnh núi rừng mùa đông lạnh lẽo, cô quạnh khiến xúc cảm của ta đầy lắng đọng suy tưởng sabi, đầy trân trọng trước vẻ thâm nghiêm, huyền bí còn giữ được sự hoang sơ của núi rừng Oku.

Hình ảnh đầm lầy, ruộng nương hay đồng cỏ… tuy không được miêu tả tỉ mỉ như những ngọn núi nhưng cũng góp phần gợi ra ấn tượng lớn về chất sabi hoang sơ đến tịch liêu của núi rừng Oku nói chung. Basho gợi ra vẻ hoang dã của hình ảnh những cây cỏ tam điệp (hagi), cây mã túy (asebi) mọc tràn lan “khắp các cánh đồng”. Riêng trang viết về Kitagami và người anh hùng Yoshitsume, dù không trực tả, không con số thống kê, không một mảng màu sắc được đưa ra… nhưng lại hiện lên rõ nét một đồng cỏ hoang dại. Basho dùng lời kể, lời bày tỏ xúc cảm, lời thơ trích dẫn… để tạo ra những ấn tượng sabi của đồng cỏ mùa hè. Ông kể nhiều về những chiến công hào hùng của Yoshitsune: xây dựng lâu đài, thành quách, đập phòng thủ ngang sông Koromo… và chiến đấu anh dũng trên đồng cỏ bên sông. Nhưng giờ đây trước mắt Basho là những thành trì đổ nát và đồng cỏ hoang dại không bóng người. Vụt lên trong trí nhớ của Basho là câu thơ Xuân Vọng của Đỗ Phủ (712 – 770):

Quốc phá, sơn hà tại
Thành xuân, thảo mộc thâm

Nước mất, còn sông núi


Thành xuân, cảnh um tùm
(Tương Như dịch)

Basho cũng viết thơ về sự biến đổi tang thương ấy, nhưng không dùng một chữ “thâm” nào chỉ đích xác sự hoang dại, quạnh hiu. Từ những dòng haibun phía trên câu thơ haiku này mà hình ảnh cỏ mùa hạ trở nên câm lặng, hoang tàn so với những giấc mơ hào hùng của người tráng sĩ:

Cỏ mùa hạ ơi
hùng binh một thuở
dấu tàn giấc mơ thôi.

Không phải vô tình mà Basho viết bài thơ sau trước khi từ biệt cõi đời:

Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
(Lê Giang dịch)

Đồng cỏ hoang dại là hình ảnh cô quạnh để lại dấu ấn không bao giờ phai trong Basho. Ngay cả khi ông nằm trên giường bệnh, hình ảnh ấy vẫn day dứt trở về trong những giấc mộng của ông.

Sự hoang sơ, cô quạnh có khi không hiện lên qua đường nét, màu sắc, hay tình tiết sự kiện nào mà qua một âm thanh:

Tịch liêu
thấm sâu vào đá tiếng ve.
(Nhật Chiêu dịch)

Bài thơ được Basho sáng tác khi ông đến thăm sơn tự Riusakuji. Trong không gian tịch lặng chỉ có tiếng kêu của dàn đồng ca ve vang vọng. Tiếng ve râm ran trong cảm nhận của người Nhật rào rào như tiếng mưa giông mùa hạ nên người Nhật mới có thành ngữ semishigure – ví tiếng ve như tiếng mưa rào. Từ liên tưởng kì diệu đó, Basho có cảm giác tiếng ve như nước len lỏi, thấm dần vào trong từng kẽ đá. Vạn vật giao hòa trong một quan hệ vô cùng bí ẩn và nhiệm màu. Tiếng ve khiến không gian như tịch mịch hơn. Thủ pháp lấy động tả tĩnh này ta rất hay gặp trong thơ Đường. Basho vốn cũng rất ngưỡng mộ Lý Bạch, Đỗ Phủ và xa hơn là cả Lão Tử, Trang Tử. Có lẽ những tư tưởng hướng tới cái đẹp tự nhiên, tương giao, hòa hợp đã hình thành trong Basho ngay từ những ngày tuổi trẻ say mê nghiên cứu thơ cổ và cả thư pháp Trung Quốc, Nhật Bản.

Sơn – thủy không tách rời nhau trong bức tranh thiên nhiên Oku dù chỉ nhìn riêng ở vẻ cô quạnh. Chương viết về Matsushima là một trong những chương hay nhất của tác phẩm, trong đó hình ảnh nước gắn liền với hình ảnh đảo như đặc trưng địa lí Nhật Bản. Một không gian sóng nước mênh mông “dài bảy dặm”, “sóng triều đánh vào rất lớn chẳng khác gì ở Chiết Giang”. “Có vô số đảo” lớn nhỏ được tạo hóa sắp đặt rất tự nhiên: “có đảo cao vút chỉ lên trời, có đảo phục xuống luồn dưới sông. Có đảo nằm chồng chất lên nhau hai ba tầng, rời nhau bên trái rồi nối nhau bên phải. Có đảo lớn cõng đảo bé hoặc bế đảo trên tay tựa như muốn nói lên tình yêu đối với con cháu”. Matsushima mang vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ, sâu lắng, tịch mịch chỉ có nước với đá, có trăng với gió mây bạt ngàn. Basho ví: “Matsushima có nét đẹp sâu lắng tựa như khuôn mặt của một mĩ nhân”.

Còn ở Kisagata, núi “cao dựng trời, in bóng trên sông”, là nơi nổi tiếng với những cơn sóng cuộn và bài thơ Chèo thuyền trên hoa của Saigyo, được Basho đánh giá: “Ngoài nét tịch liêu còn có cái gì u hoài, khiến cho du khách cảm thấy xao xuyến”.

Như vậy cô quạnh, tịch liêu mà không là sự chết lặng, tẻ nhạt, buồn chán, cũng không là cõi vô (mu) của đạo Thiền tiêu diệt mọi dục vọng. Hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong văn thơ Basho lại gợi ra những xúc cảm xao xuyến u hoài nhẹ nhàng và mơ hồ. Đôi khi tạo niềm thành kính trước khung cảnh Oku thâm nghiêm và đầy sức mạnh tự nhiên.

Đến khung cảnh của bãi biển Iro thì vẻ quạnh hiu càng lộ rõ: “Trên bãi biển chỉ có dăm ba túp lều nhỏ của các ngư phủ và chùa Hokke quạnh hiu (…). Biển và trời vào lúc hoàng hôn buồn da diết”.

Buồn làm sao
hơn cả Suma quạnh hiu

mùa thu trên biển.

Theo lời đồn đại và theo tập truyện cổ Nhật Bản – Truyện kể Genji (Murasaki Shikibu) thì bãi Suma vô cùng hiu quạnh. Basho đã so sánh một hình ảnh biển Suma cụ thể ấy với một hình ảnh thu trừu tượng (mùa thu trên biển Iro) làm cho vẻ hiu quạnh càng thêm nổi bật, có gì đó giống như Nguyễn Du mượn hình ảnh Thúy Vân để tả Thúy Kiều vậy. Sóng nước, ánh sáng hay khí trời trên mặt nước đều nhuốm một màu tịch liêu, quạnh hịu và u hoài, xao xuyến.

Vẻ đẹp cô quạnh trong hình ảnh thiên nhiên của tác phẩm Oku no hoshomichi đã từng làm cho nhiều người nghiên cứu quy nó vào chất Thiền. Nhưng thực ra cái cô quạnh của văn chương đậm chất Thiền gợi ra một Niết bàn, ở đó con người thoát khỏi mọi dục vọng, mọi ưu sầu… hướng đến một ý chí tối cao là sự thanh thản, trung dung. Còn hình ảnh cô quạnh của văn chương Basho không chỉ gợi ra vẻ tịch liêu mà còn gợi ra những cảm xúc u hoài, xao xuyến. Mặc dù cả hai cùng cảm nhận bằng trực cảm, tránh xa dục vọng tầm thường, hướng tới cái đẹp của sự thanh tịnh. Nghĩa là một bên thì gợi ra ý chí, còn một bên lại gợi ra xúc cảm. Xúc cảm mà hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong tác phẩm này gợi ra có thể là nỗi niềm xao xuyến trước dấu ấn của mùa hay của đời sống con người lên thiên nhiên; có thể là nỗi niềm xao xuyến khi đứng trước một cảnh vật tác giả tìm thấy sự đồng cảm với các bậc tiền nhân cũng đã từng đi qua nơi ấy và viết thơ để lại; cũng có thể là nỗi niềm u hoài về quá vãng…

2.2. Hình ảnh thiên nhiên thanh tú, trang nhã

Sơn thủy trong thi tập Lối lên miền Oku cô quạnh nhưng cũng rất hữu tình, nó không bí hiểm, rợn ngợp mà rất hài hòa với vẻ đẹp thanh tú của những hình ảnh thiên nhiên khác.

Đóng góp lớn lao của Basho vào quan niệm sabi của văn học nói riêng, văn hóa Nhật Bản nói chung chính là ở việc ông đề cao tính thẩm mĩ trong nó. Trước ông, Teika (1162 – 1241) cũng chú trọng ý nghĩa thẩm mĩ, tước bỏ chất tôn giáo trong khái niệm sabi mà cha ông (Fujiwara no Toshinari) khởi xướng. Nhưng văn thơ Basho tìm đến cái đẹp thanh tú, tao nhã chứ không sặc sỡ, diêm dúa như sáng tác của Teika, cũng không như cái đẹp hưởng lạc của văn chương “phù thế” đương thời. Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp sabi trong Oku no hoshomichi vì thế còn có nét thanh tú, thơ mộng, thi vị… rất phù hợp với tâm hồn “duy mĩ” Nhật Bản cũng như hài hòa với tinh thân thần Thiền tông đã thấm đẫm trên đất nước Phù Tang này. Basho nói: “Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi cầm thú” [2; 31].

Vẻ đẹp thanh tú trước hết gợi lên từ hình ảnh trăng và mưa. Trăng và mưa trong Lối lên miền Oku hết sức phong nhã, trong sáng. “Ngay từ khi châm đầu gối bằng ngải cứu nhằm sửa soạn cho cuộc hành trình, tôi đã không ngớt miên man nghĩ đến vầng trăng ở Matsushi- ma”. Đọc những dòng đầu tiên của Oku no hoshomichi như thế, bạn đọc không khỏi khấp khởi, háo hức cùng Basho mau đến Matsushima ngắm trăng. Và đây là tất cả những gì chúng ta mong đợi: “Ánh trăng phản chiếu sáng trên biển: cảnh sắc Matsushima trông khác hẳn ban ngày”. Văn haibun chỉ miêu tả có vậy, cũng không trông chờ gì ở thơ haiku vì Basho “đặt lưng xuống” mà “ngậm miệng chẳng làm bài thơ nào”. Hattori Toho, môn đệ của Basho kể lại là: “Thầy có nói là khi đứng trước một cảnh sắc quá ư tuyệt vời, người mình như bị thu hút. Thầy không làm bài thơ nào ở Matsushima. Đây là một điều quan trọng” [1,69].

Phong nhã có lẽ chính ở sự vô ngôn ấy, nó là cái đẹp len thấm nhẹ nhàng vào cảm giác mà không dễ gì miêu tả thành lời. Nó là vẻ đẹp không đường nét, màu sắc cụ thể nào, chỉ biết “ánh trăng phản chiếu trên biển”. Có thể gọi “trăng” như thế là “hình ảnh trong gương”, nhìn thấy mà không nắm bắt được. Sau này Kawabata cũng dùng hình ảnh “thủy nguyệt” ấy để nói lên những tinh tế của tâm hồn.

Ánh sáng, mây, gió, sương… và cả mưa đều mang vẻ đẹp vô hình hoặc không định hình như vậy. Những ấn tượng bất ngờ này thường tạo niềm u hoài, nuối tiếc rất sabi. Hình ảnh mưa chủ yếu trong Oku no hoshomichi là mưa rào tháng năm (samidare) nên không có vẻ mơ màng như mưa mơ, mưa mận mùa xuân (mưa baiu). Nhưng nó phong nhã ở những khía cạnh khác. Mặc dù mưa tháng năm là hình ảnh gắn liền với “nước dột”, “rệp muỗi quấy rầy”, “đường sá quá ư lầy lội” hay “ủ nước cho dòng sông cuồn cuộn chảy”, tức gắn liền với những hình ảnh không chút phong nhã kiểu thi vị cổ điển. Nhưng thế nào Basho cũng chỉ ra được một khía cạnh rất hài hòa với hình ảnh khác của nó. Vẻ hài hòa tự nhiên có lẽ mới chính là cốt lõi của phong nhã. Ở Kasajima, nưa rào tháng năm trở nên “quá ư thích hợp” với những tên địa danh Minowa (mino: áo tơi) và Kasajima (kasa: dù che mưa). Mưa rào có thể “làm cho nhiều cái đổ nát để rồi trở thành một bãi cỏ hoang”, nhưng thay cho việc miêu tả sự hoang tàn, trống trải có thể có, Basho lại chiêm ngưỡng cái đẹp thuận hợp, an hòa của mưa:

Mưa tháng năm
không tàn phá đến
sảnh đường Dương Quang.

Sảnh đường Hikarido (Dương Quang) là một di tích văn hóa truyền thống quý giá ở nơi Oku hẻo lánh khi đó, chứng tích vàng son của những ông hoàng thế kỉ XII. Sự hài hòa của mưa tháng năm với ý nguyện giữ gìn vẻ đẹp văn hóa của con người đã làm nên một vẻ đẹp phong nhã đầy ý nghĩa. Hình ảnh mưa có vẻ như vô duyên khi làm mất đi cảnh trăng rằm mà nhà thơ mong đợi. Nhưng có thể chính nó đã giúp ta hiểu rằng đẹp hay phong nhã là ở chính trong tâm hồn chứ không phải tìm trong cảnh vật, hoặc thể phong nhã là chính sự tự nhiên của tạo vật chứ không như sự cố định hạn hẹp mà con người hình dung trước đó.

Vẻ đẹp phong nhã trong Lối lên miền Oku còn thể hiện trong hình ảnh hoa và các loài thảo mộc. Hoa lá cỏ cây… thường mang đến vẻ thanh tao, thi vị, lại càng trở nên phong nhã dưới những áng văn thơ đậm chất sabi của Basho.

Để nói về đóa hoa cây lật (hạt dẻ), Basho đã viết văn haibun rất tỉ mỉ về tên cây: “Chữ “lật” gồm chữ “tây” và chữ “mộc”, gợi ý ở Tây phương tịnh độ. Người ta bảo rằng Gyogi Bồ Tát suốt đời dụng gây cây lật và xây ngôi nhà cũng chỉ bằng gỗ lật”. Ngay đến Saigyo cũng nói một câu đầy ẩn ý: “Nơi rừng sâu tôi lượm hạt dẻ”. Về hoa dẻ, Basho viết:

Nhân gian
không màng đến đóa hoa

cây dẻ bên hiên nhà.

Vẻ đẹp của những bông hoa ấy không ở đường nét, màu sắc mà có khi chính ở sự vô dụng, thoát khỏi ham muốn cầu lợi của người đời. Khi “nhân gian không màng đến” thì nhà thơ lại nghĩ về nó thật nhiều, phân tích tên cây đến ngẫm nghĩ về cựu tích của nó. Bài thơ đầu tiên về hoa trong Oku no hoshomichi đã gợi ra vẻ phong nhã của bể Thiền: trong sáng và thanh cao. Hình ảnh hoa không được tả nhưng được lí giải gián tiếp qua điển tích nên vẫn rất sinh động.

Đôi khi Basho đặt hình ảnh những bông hoa giản dị, đời thường cạnh những hình ảnh vốn được thừa nhận là tao nhã, thanh cao từ trong truyền thống, để cho hai hình ảnh cân xứng với nhau và theo đó đưa hoa lên một vẻ phong nhã bất ngờ. “Hoa nghệ tây” được sánh cùng hình ảnh mĩ nhân trang điểm. “Hoa dạ hợp” sánh ngang nàng Tây thi mĩ miều:

Chà Kisagata
trong mưa Tây Thi ngủ

mơ màng những cánh hoa.

Ta ngộ ra một điều rằng thiên nhiên thanh tú, phong nhã là “một vũ trụ thuần khiết không còn sai biệt”. “Tất cả đều có cuộc sống, có Phật tính, có sự bình đẳng trong ánh sáng và cát bụi” [2; 35].

Cây cỏ trong Oku no hoshomichi cũng mang vẻ đẹp không rực rỡ sắc màu, không hào nhoáng mà thanh nhã và cổ kính, như hình ảnh của “những cây tùng có màu xanh mướt, óng ánh tuyệt vời. Cành cây bị uốn nắn liên tục bởi gió khiến ta có cảm tưởng như những cây tùng này đã tự tạo nên những nét cong cho chính mình”. Mỗi chương khác nhau Basho lại khắc họa rõ nét hình ảnh thanh tú của nó bằng vẻ cổ kính của những đám rêu bám chặt gốc tùng, ánh trăng huyền ảo xuyên qua kẽ lá, hình ảnh “những khóm lau đã trổ bông” từng được nhắc nhiều trong thơ ca của các bậc tiền nhân theo đuổi hai chữ “phong nhã” (fuga); hay hình ảnh đồng hoa mã túy bạc trắng…

Trong văn chương, thiên nhiên thường được dựng lên như một cái phông nền cho nhà văn khắc họa hình ảnh con người nhưng trong Oku no hoshomchi thì Basho không chỉ tạo không gian, thời gian nghệ thuật bằng cảnh vật, mà còn coi chúng như một hình tượng chính, nếu không muốn nói là hình tượng trung tâm, khá cân xứng với hình tượng con người miền Oku. Vì thế thiên nhiên mang sức sống tự nhiên, sinh động của chính nó, nhiều hơn là mang một ý nghĩa tượng trưng, ẩn dụ cho một hình ảnh nào khác. Nếu hiểu được tinh thần Shinto yêu mến thiên nhiên đến sùng bái của người Nhật, hiểu được nghệ thuật vườn đá, trông cây cảnh bonsai hay cắm hoa ikebana là tự nhiên được thu nhỏ chứ không là nhân tạo… thì chúng ta sẽ thấy được sự độc đáo rất Nhật Bản của hình ảnh thiên thiên trong Oku no hoshomichi. Basho khắc họa chúng ở những nét cô quạnh và thanh tú, ẩn chứa đằng sau là những xúc cảm xao xuyến, man mác, u hoài. Có lẽ đó cũng như một sự phản ứng của ông đối với Edo hoa lệ đến xô bồ mà nhân thế đang quay cuồng trong sự phát triển bát nháo của nó. Cũng là một thái độ phản kháng nhưng Basho rất tế nhị, nhẹ nhàng bằng việc bày tỏ nguyện vọng, ước mơ, niềm khao khát của mình vào một thực tại thanh tao mà ông tìm thấy ở Oku. Có gì đó giống như tinh thần ẩn dật của lớp nhà văn ẩn sĩ từ thời Heian xa xưa. Có gì đó vẫn rất dễ dàng đồng cảm với thời đại văn học sinh thái của chúng ta bây giờ!!

ThS Bùi Thị Mai Anh

Viện Giáo dục và Đào tạo Quốc tế, Trường ĐHSP HN

–

Ghi chú: Các câu haiku được sử dụng trong bài viết này do người viết tạm dịch, nếu do người khác dịch thì ghi rõ tên dịch giả, các câu haibun sử dụng bản dịch của Vĩnh Sính trong cuốn Lối lên miền Oku (Nxb Thế giới, H.1999).

Tài liệu tham khảo

1. Matsuo Basho, Vĩnh Sính dịch, giới thiệu và chú thích (1999), Lối lên miền Oku. NXB Thế giới, H.

2. Phan Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, NXB Văn học, T.P.HCM.

3. Phan Nhật Chiêu. Thơ ca Nhật Bản. Nxb Giáo dục. T.P. HCM. 1998.

4. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB GD, H.

5. Harold G. Henderson, Lê Thiện Dũng dịch (2000), Hài cú nhập môn, NXB Trẻ, T.P. HCM.

6. V.V. Ootrinicốp. Phong Vũ dịch (1996), Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật, Số 5/1996, Tạp chí Văn học, tr.60.

7. Matsuo Basho, Donaid Keene translated (1996), The Narow Road to Oku. Kodansha imerational, Japan.

--

clbthohaikuviethcm.vn

Wednesday, 14 October 2020

Thu về

Nhặt lá Bồ đề

 

Tuyệt vời thay lò sưởi đã cháy!

Sau mấy ngày phòng lạnh lẽo quá chừng!

Mùa thu thay thế hè 

và mang khi lạnh về đây.

..

Thu về

Thu về đem lạnh về theo,

Lá vàng lác đát bay vèo không gian.

Căn phòng ai ngủ miên man,

Lò sưới chưa bật khí tràn lạnh chân!


ĐN


Tuesday, 13 October 2020

Coi hình Ngộ nhảy múa

 


 

1

Bất ngờ xem em nhảy cao vui

Ta thấy yên tâm

Là em có tinh thần an vui!


Nhìn em nhảy múa tươi vui

Thì ra ta quá lui cui lo buồn!


2

Cờ tướng say mê cũng đúng mùa

Nhưng mà thua lãng xẹt khiến mắc cười

Hôm nay lần đầu hơn 1 ván

Sau hàng chục trận phải ôm đầu!


3

Dọn dẹp nhiều thấy bực ghê

Nào sách nào linh tinh đủ thứ

Câu hỏi:

Ta dùng đồ đạc hay đồ đạc dùng ta?.. dọn dẹp cho chúng hoài?

Ngộ ra chưa?


Con mọt sách

Monday, 28 September 2020

Qua cơn mưa

 


 

Khuya nay cũng đạp xe qua con đường này,
Đường thật yên tĩnh
Nhìn thấy các lá giữa đường ít đi
Chỉ nhiều và nằm bình an hai bên lề đường.
Có lẽ vì trời hôm nay cả ngày
Đã thôi mưa và gió.

Thật la:

Khuya nay trời lại bình an

Hết mưa hết gió miên man lá nằm

ĐN

hôm nay nàng đến như sấm sét.

Friday, 25 September 2020

Phân tích giấc mơ


 

 1

Mơ

"Phía đông của Châu Phi

Thành phố nằm trong một vịnh

Một người quen trong mơ"

Phân tích:

Giấc mơ này chỉ nhớ các Fragmente, không nhớ toàn câu chuyện.

Nhớ là, trong mơ mình và 1 người đàn ông người ngoại quốc,mới quen,

trong mơ cả 2 đi tìm 1 địa điểm, và đã tìm được một một cái tên, thì ra

đây là 1 thành phố bên phía đông nam của phi châu. Một cái tên ngắn có chữ P hay B,

nguyên âm có chữ i.

Sau đó gặp 1 anh bạn nhắc lại về 1 TP bên bờ biển phía nam Thái-Lan gần VN.

Kết luận:

Chỉ nhớ như thế.

Tương lai phải chú ý mới có thể nhớ nhiều hơn chăng?

Mơ mà nhớ mới hay!


 

1

Nhớ đi chơi bên Tàu

Thèm cafe chỉ có vào KFC

Khác với Vietnam

Tiệm cafe phong phú!


2

Khi ngủ ta nằm mơ

Thường không nhớ

Khi tỉnh dậy!

Nhưng hôm nay

Lạ lùng thay

Khi tỉnh dậy

Nhớ cả 3 cảnh

trong giấc mơ!

Cảnh 1

Mình chiêm ngưỡng kiến trúc 1

căn nhà bên sông

của 1 anh việt kiều làm nghệ thuật ở Mỹ

Cảnh 2

Quen làm bạn với 2 người Việt gốc Ấn độ

Cùng rủ nhau đi vẽ..

Cảnh 3

Cả 3 tụi mình

Bổng gặp Joschka Fischer

đang đi trên đường vui vẽ!

Hết mơ rồi tỉnh dậy ghi xuống ngay..


ĐN

Dư âm câu chuyện em từng kể,

 


  

Mây ở mô rồi, langthang ở đâu!

Cho ta nghe tiếng nhạc bên cầu,

Dư âm câu chuyện em từng kể,

Ôm mãi trong đời không mất đâu.

 

ĐN

Thursday, 24 September 2020

Vô đề

 


 

Ta đi 

giữa hai hàng cây bồ đề

Hương đêm 

mùi hoa hồng đê mê

 

Ta bỗng nhớ về em 

Cô gái ta ngưỡng mộ

Ôi yêu quý nhất,

Độc đáo nhất 

là lịch sữ của em!

 

Mỗi người con gái 

có 1 lịch sữ riêng

Và ta yêu, 

ta ngưỡng mộ 

lịch sữ độc đáo của em

 

Em rất đẹp

Duyên dáng

Em thông minh

Em anh hùng

 

Hiếm có ai 

trên đời như em

 

Ôi những cây bồ đề

Trên con đường Johannes

Hạnh phúc mỗi lần 

Ta đi qua đó

Dù buổi sáng

Dù đêm khuya

Trong tai ta lại nghe 

Tiếng ngêu ngao 

giọng em đùa:

..cây đa, cây đề.

Yêu em!

 

ĐN

Đầu thu 2020

24.9.2020

 


Monday, 21 September 2020

Silvester năm nào.. quên rồi

 


1

Anh bạn Bắc-phi đến

Để lấy cái xe đạp, he lại thích thêm cái baton.

Okie, thêm cái ghế ikea và cái đồ nương thịt..

Thế là balkon có chổ trống

Thế là cánh cửa gỗ ua.cũng được vất đi

He còn muốn xin cái ghế schaukelstuhl, cũng sẵn sàng..

Đồ đạc chỉ choán chổ, vô dụng mà..


2

Vui quá!

Mai nên tiếp tục..



Sach cua Tran Duc Thao

 


Binh luan sau:

 

Trích

..

 

Về Quyển Sách của Trần Ðức Thảo: 
“Hiện Tượng Học và Duy Vật Biện Chứng”

Roland Barthes [1]

Trong số các bài điểm sách về tác phẩm trên của Trần Đức Thảo, đây là bài ngắn mà sát nhất, đăng trên Combat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes Toàn Tập, quyển 1, 1993, tr. 107. Bản dịch của Phạm Trọng Luật.

Quyển sách của Trần Đức Thảo là một thử nghiệm liên kết hai phương pháp cho đến nay vẫn bị xem là thù địch bởi những người chủ trương của cả đôi bên: hiện tượng học của Husserl và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sự kết hợp này, thật ra, không phải là một cuộc hoà giải: điều mà hiện tượng học có thể mang lại cho chủ nghĩa Marx là một cách thức mô tả nghiệm sinh, có thể nói là một thứ ngôn ngữ nếu muốn; ngược lại, điều mà chủ nghĩa duy vật biện chứng có thể mang lại cho sự mô tả hiện tượng học là đường chân trời và sự hoàn tất. Như vậy là có cấp bậc, và niềm tin của Trần Đức Thảo được đặt dứt khoát nơi chủ nghĩa Marx chứ không phải trên hiện tượng học: ngay cả khi được trình bày trong sáng như trong suốt phần một của tác phẩm, hiện tượng học vẫn là bất cập; trái lại chủ nghĩa Marx thì hoàn chỉnh và chỉ nhận từ hiện tượng học một thứ thiết bị kỹ thuật. Thật ra, đây là một hành trình: hiện tượng học trao đuốc thiêng lại cho chủ nghĩa Marx cùng với loại từ vựng cho phép nó mô tả sự vận động của ý thức và những huyền thoại của Lịch Sử.

Trong phần hai của tác phẩm, Trần Đức Thảo đã dùng sự mô tả hiện tượng học như thế để phục vụ cho hai khẳng định chính của chủ nghĩa Marx. Thứ nhất: ý thức được xây dựng từ vật chất; ở đây, ông Thảo phân tích một số tập tính của thú vật và trẻ em, và bằng cách miêu tả sự chênh lệch nói chung giữa những hành vi ngoại hiện với ý nghĩa nội tại, ông có thể giải thích mỗi tình trạng ý thức dựa trên một trạng thái vật chất trước đó. Bởi vì đối với ông Thảo, «trong mỗi vận động ý hướng tính chẳng có gì khác hơn là một vận động vừa phác họa đã bị trấn áp» [2].

Khẳng định thứ hai được Trần Đức Thảo cho mượn thiết bị hiện tượng học là: mỗi hệ tư tưởng khác nhau của nhân loại đều có một nội dung chính xác. Thảo xác định biện chứng của các xã hội người, và chỉ ra trong mỗi huyền thoại hoặc triết lý cái hoạt ánh nhại dạng của những quan hệ sản xuất đương thời.

Rất đặc sắc, sự chứng minh của Trần Đức Thảo có giá trị lớn là đã đặt sự tiến hoá của tư tưởng và huyền thoại vào trong sự tiến hoá của Lịch Sử chiều sâu, đó là lịch sử của sở hữu, hay đúng hơn nữa, của ý tưởng sở hữu. Chắc hẳn đây không phải là một hệ thống phương trình đã giải cạn những giai đoạn của Lịch Sử. Như đã được viết, quyển sách của Trần Đức Thảo tiêu biểu cho tình trạng sau cùng - nhưng chưa phải là tối hậu - của chủ nghĩa Marx tư duy.

Chú thích

     

[1] Roland Barthes (1915-1980). Nhà văn, nhà phê bình và lý luận văn học Pháp. Mồ côi cha từ khi lên một, lao phổi từ năm 19 tuổi. Học tại các trường trung học Montaigne và Louis-le-Grand, trước khi vào đại học Sorbonne (1935). Đọc nhiều từ trẻ và xuất ngoại cũng không ít. Trong thời kỳ dưỡng bệnh ở Thụy Sĩ (1945-1949), làm quen thêm với tác phẩm của Michelet, Sartre, Marx, Lénine và Trotski. Barthes đã từng làm quản thủ thư viện tại Viện Pháp Học ở Bucarest (1948), công tác ở Văn Hoá Vụ của Bộ Ngoại Giao (1950-1952), nghiên cứu xã hội học tại Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Gia (1955), nhưng chủ yếu vẫn là dạy học (1949-1951: Đại Học Alexandrie Ai Cập; 1962: École Pratique des Hautes Études Paris; 1969-1970, Đại Học Rabat Maroc). Chính trong thời kỳ làm lecteur (trợ giáo về sinh ngữ) tại Alexandrie mà ông tiếp xúc với ngôn ngữ cấu trúc (Saussure, Brœndal et Jakobson), và trở thành đại biểu chính của cấu trúc luận trong văn học. Ngoài ra, ông còn hoạt động tích cực trong nhiều lãnh vực văn hoá khác, như kịch nghệ (cộng tác với Théâtre Populaire, ủng hộ Jean Vilar, giới thiệu kịch của Brecht), báo chí (viết cho Combat, Esprit, France-Observateur, Tel Quel…), và xuất bản (cố vấn văn học cho Arc, tham gia xây dựng các tạp chí Arguments, Communications, Quinzaine Littéraire). Năm 1977, Barthes được bổ giáo sư ngành Tín Hiệu Văn Học tại Thái Học Viện Pháp Quốc (Collège de France). Ông mất năm 1980 sau một tai nạn xe hơi ngay trước Viện, để lại một sự nghiệp đồ sộ, chủ yếu là văn học, bên cạnh một số «hệ thống ý nghĩa» khác (thời trang, nhiếp ảnh…). Tất cả đã được in lại trong bộ: Barthes, Roland. Oeuvres complètes. Ed. établie et présentée par Eric Marty. Paris: Ed. du Seuil, 1993-1995. 3 t. (I: 1942-1965; II: 1966-1973; III: 1974-1980)

[2] Mỗi sinh vật là trung tâm của những chuỗi vận động và hành vi liên tục.  Hành vi mới nối tiếp hành vi cũ, và ý thức xuất hiện đúng vào lúc hành vi cũ vừa khởi hiện đã bị hành vi mới lấn át. Chính những phác thảo vận động bị trấn áp này tạo nên ý thức như dữ kiện nghiệm trải. Như thế, nghiệm sinh luôn luôn trễ hơn hành vi thực sự một bước. Ý thức luôn luôn chạy theo hiện thực, bởi vì sự thật là hiện thực quy định ý thức chứ ý thức không quy định hiện thực.

--

http://www.viet-studies.net/TDThao/TDThao_Barthes.htm
 

Tran duc Thao


Trần Ðức Thảo, một kiếp người

Trích Phan Huy Đường

..

Sinh thời Jean Paul Sartre coi ông là một trong số rất hiếm những người mácxít không chìm đắm trong tụng niệm, dám xông pha nơi biên ải của sự hiểu biết. Ðúng là Trần Ðức Thảo đã xông pha khi ông công bố Phénoménologie et matérialisme dialectique59. Ông đã tìm cách thống nhất tính ý hướng (intentionnalité) của ý thức, tính tự do của con người với quá trình vận động của Lịch sử. Ông đã theo rõi những bước đi chập chững của sinh học cuối thập niên 1940, cố tìm nhịp cầu nối liền sự sống với tư duy. Ông đã choảng cả trọng khối của hiện thực vào quan điểm siêu việt (transcendance) của các bạn đồng song ở phố Ulm. Ðối với các nhà "mácxít" chính thống, ông làm loé sáng cái intentionnalité rất có vấn đề. Hai sự khước từ ấy, hai đòi hỏi ấy, là nội lực quán xuyến những tác phẩm của ông. Trong cõi hỗn mang của Lịch sử, ông đòi được trọn vẹn cả phần xác lẫn phần hồn. Một con người tự do. Ðã 40 năm nay.

59 Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Minh Tân, Paris 1951.

Ngày ấy, tương lai Trần Ðức Thảo tưởng chừng rộng mở và sáng chói. Rốt cuộc, nó tối om, như tiền đồ của chị Dậu trong Tắt đèn. Là người triệt để mácxít, ông không tin có thể phủi đời mà hiểu được con người. Sự thấu hiểu thế giới chỉ chớm nở, hưng phấn thông qua hành động. Ông muốn trả giá, trả nợ đời để được tư duy thân phân con người cho tới cùng :

"Phần thứ nhì của Phénoménologie et matérialisme dialectique (1951) do đó đã dẫn tôi tới một ngõ cụt, và lúc đó tôi đã hy vọng tìm ra giải pháp trong cách mạng Việt Nam. Cuối sách, khi nói tới "vận động hiện thực của lịch sử", chính là bóng gió nói tới Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

cách mạng Việt Nam60".

60 Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

Trung thành với truyền thống sĩ phu, ông xếp bút nghiên, rời Pháp, về chiến khu Việt Nam. Con người tự do ấy đã tự biến mình thành chiến sĩ. Là nhà triết học, qua chiến đấu, ông sẽ khắc tự do của mình vào quá trình xây dựng nhân cách của nhân loại.

Người ta kể lại rằng Trần Ðức Thảo ước mơ thuyết giảng chủ nghĩa Mác cho các nhà lãnh đạo Ðảng. Nếu đúng vậy, quả là bé cái lầm. Họ xếp ông vào một xó để dịch tác phẩm của tổng bí thư Trường Chinh ra tiếng Pháp, nhân tiện để dạy ông chủ nghĩa Mác hiện thực của guồng máy Ðảng.

Chủ nhiệm Khoa sử Trường đại học tổng hợp, mà rồi Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn. Họ chặt đứt mọi liên hệ của ông với thế giới, họ cô lập ông ngay giữa đồng bào của mình. Ông vẫn nghiên cứu với những phương tiện trong tầm tay. Vẫn một nỗi ám ảnh khôn nguôi : làm sao, một ngày kia, liên hợp được những cỗi rễ vật chất, sinh vật, lịch sử, xã hội của con người với ý thức tự do của nó. Lâu lâu, giữa hai đợt bom Mỹ, ta vẳng nghe tiếng nói của Trần Ðức Thảo. Ðâu đó một bài nghiên cứu đăng trên một tạp chí. Ta biết ông còn sống, còn tư duy. Thế là đủ ! Chẳng có gì đáng tự hào, cũng chẳng có gì phải dằn vặt lương tâm. Còn biết bao việc khác, cấp bách, phải làm. Vả chăng, có điều luật văn minh nào kết tội sự thờ ơ trước một tư duy đang lâm nguy ?

Rồi tới lúc họ bán tống bán tháo chủ nghĩa cộng sản. Bán, bán hết. Hải sản, dầu mỏ, hồng ngọc, gỗ quý... đàn ông, đàn bà, trẻ con, từng container, từng chuyến charter, Ðông Tây Nam Bắc, đủ mười phương tám hướng... bán luôn cả linh hồn của Ðảng. Ông chẳng bao giờ có gì để bán. Chỉ còn một điều để cho : sự Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

đòi hỏi còn nguyên vẹn từ tuổi trẻ. Họ sử dụng ông một lần chót, để ông sang Paris gặp gỡ trí thức, bảo vệ cái lý tưởng mà họ đã hết tin tưởng. Biết đâu đấy. Lầm to, cái lầm tất yếu của mọi vương triều trong buổi suy tàn. Trên mảnh đất năm nào đã loé lên tư tưởng của mình, Trần Ðức Thảo đã tìm lại cỗi rễ của sự trưởng thành, hưng phấn của tuổi trẻ : "cái đà nội tâm của những năm chót thời tôi ở Pháp61" đã tái khởi động ngay từ những ngày đầu của Perestroika.

61 Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

62 Critique de la raison dialectique.

Tình cờ, tôi được gặp ông, vài tháng trước khi ông chết. Ông sống đơn độc trong một căn phòng bé tí, rệu rạo. Dán lững thững bò khắp nơi, trên tường, trên trần. Ðôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây như mắt trẻ con, không thấy chúng. Bạn bè bảo tôi rằng ông Thảo bây giờ lẩm cẩm rồi, sau bao nhiêu năm bị truy bức, tâm thần của ông đã bị nhị phân (schizophrénie). Song tôi đã gặp một con người minh mẫn.

Biết ông đã từng tranh luận với Sartre, tôi hỏi ông nghĩ sao về tác phẩm Phê phán lý trí biện chứng62. Ông nói : "Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt". Tôi lại hỏi ông về trước tác của ông, và nói thực là tôi thấy chúng máy móc. Ông khoát tay như muốn gạt chúng đi, và đưa cho tôi tác phẩm cuối cùng, còn dưới dạng bản nháp.

Ông nói đôi điều về cuộc sống của ông ở Paris. Mỗi ngày ông còn viết được một trang. Ông vẫn lạc quan, vẫn hy vọng, qua sự tiếp cận những khoa học mới, ông sẽ mở ra con đường mới. Ông chưa biết nhân loại mảnh mai lắm, ông chưa tưởng tượng được quá khứ có thể phủ dập tương lai. Bạn bè muốn giúp ông, ông thường từ khước. Ông quá sợ bị kết nạp vào các trường, các phái, các nhà thờ. Tôi hiểu ông đã lâm bệnh nặng. Căn bệnh của Trần Đức Thảo, một kiếp người

 

 

ông có một cái tên : Tự do. Ông muốn vận dụng nó để làm gì ? Hãy nghe ông nói, một lần chót :

"... khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người63."

63 ... la conscience dans son appel à soiỞmême pose l'exigence du bien dans l'action, du vrai dans la connaissance, et du beau dans l'achèvement des processus vécus. Par là, la conscience fait du monde naturel un monde humain, valable pour l'homme. Un itinéraire. Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.

Cái Chân trong tri thức ! Ông đã sống nhầm thời đại. Thời đại này chỉ hiểu hiệu quả trước mắt. Cái Thiện trong hành động ! Ông đã chọn nhầm thế giới. Thế giới này chỉ tuân theo lợi nhuận. Cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh ! Ông đã nhầm nhân loại. Nhân loại hôm nay chỉ ao ước cơm áo, giải trí và những hàng rào.

Không khuất phục được ông lúc sống, họ tìm cách quản lý cái chết của ông. Họ gắn một huân chương hạng hai lên quan tài của ông, để quay phim. Muộn quá rồi. Ông đã ra đi, mang theo hoài bão, chỉ để lại một sự đòi hỏi, cho những cuộc đời thầm lặng. Người chiến sĩ, người cộng sản, nhà tư tưởng không hề bỏ cuộc ấy đã ra đi. Sống như ông đã phải sống, có lẽ chỉ có thể chết như ông đã chết. Tôi hồi tưởng đôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây tựa mắt trẻ con. Và tôi tự nhủ, xét cho cùng, đời ông thật buồn mà thật đẹp, vì ông đã biết chết như chẳng mấy người biết sống, sống mà không hề biết bán mình. Trần Ðức Thảo là một nhà triết học chân chính.

Trần Đạo, 1993