Saturday, 14 February 2015

Thứ bảy với âm hưởng 12

 Tưởng niệm



Nghe room chính trị
Nghe âm thanh tiếng việt
Khói thuốc bay bay thơm

Sáng dậy cà phê nóng
Có blog để tâm sự học hỏi
Có em ghé về

Mong em bình an


ĐỗNguyễn

Vô đề 12

Cháo em làm



Anh Em

Đường mùa thu vàng lá..
Anh nhớ đến chồi xanh..

Vắng em chờ mênh mang
Nhớ giọng em đọc thơ..

Cây bút vẽ rời anh
Nhớ mới đây trên tay

Hình bóng Thanh bàn thờ
Nhớ ngày xưa túc xá

Sóng rời xa bãi cát
Mới đây sóng hôn bờ

..Anh thương em bây giờ
Như ngày xưa thuở ấy..

ĐỗNguyễn

Em đã đến

Hoa tặng Đ. Ngộ

Những ngày kỉ niệm

Ngày mai thứ bảy rồi,
Tiệm sách mở đến hai giờ trưa.
Ngủ để mai đi tiệm!

Mấy đêm trông Mit vào,
Mở máy thấy có em về blog
Em có gọi trong sk

Bêm em hai giờ sáng,
Vậy mà em ghé bất ngờ
Đành lỡ một cuộc gọi!

Em đến, niềm vui lên
Cám ơn em nhiều lắm Mit ơi
Lòng buồn cũng nhẹ vơi!

ĐỗNguyễn

Friday, 13 February 2015

Tóm lược cuốn sách: Lược sử Phật giáo

 12, hình chụp sau khi thấy em về..

Tóm lược cuốn sách: Lược sử Phật giáo
A short history of buddhism
Eduard Conze

Conze chia PG làm 4 thời kì:


1. Thời kì I: từ thời Phật đến năm 00 công nguyên, gọi là thời phật giáo nguyên thủy.

Ấn độ
1.1 Đặc điểm của thời kì I
a. thiếu thông tin chính xác
b. Thời vua A Duc có thật 274 đến 236 trước CN chắc chắn có thật.
c. Phật sống khoảng 563 đến 483 trước CN
d. Suốt thời kì này Kinh không được ghi chép mà chỉ được truyền miệng. Những gì phật nói không được ghi chép lại ngay. Gần cuối thời kì mới có sự ghi chép.
e. Có thể Phật đã giảng dạy bằng ngôn ngữ Ardhamagadhi của xứ Ma kiệt đà
f.  Về những kinh điển đã đươc ghi chép sớm nhất, ngay cả ngôn ngữ được xử dụng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
g. Kinh Nikaya mà chúng ta đang có chỉ là bản dịch của những kinh điển đầu tiên, Kinh agama cũng thế.
h. Hai tài liệu cổ nhất mà chúng ta có thể xếp vào thời kì tiền A dục với phần nào chắc chắn đề cập đến giới luật.


con tiep





2. Thời kì II: từ đầu công nguyên đến năm 500, thời kì giáo lí đại thừa.

Báo BBC đưa tin
Nguyễn Bá Thanh đã mất..

Mit oi, moi mo sk, thay Mit goi, moi em vo skype nhe







Cả đêm nghe giảng
Ông thày ở Vạn hạnh
Oang oang nói tiếng Huế
Nói về Thanh tịnh đạo

Choàng dậy chưa thấy dáng em
..
Anh tìm lại các làm hôm qua
Và vẽ được bức hình này..

ĐỗNguyễn

hiện tại nghĩ đến em

hiện tại


Anh đang nghe
họ luận về thiền..

Nguệc ngoạc
vẽ tặng em..

ĐN

Trái dừa khô ngày xưa của Mit




Anh đang nghe Sư BC giảng,
Kể chuyện về trái dừa..

Anh nhớ đến những chuyện em kể
Thời xưa ở Huế
Tuổi thơ
Vui theo những niềm thích nho nhỏ
Trái dừa khô
Và người sư cô tò mò để ý cô bé làm chi rứa..

Ôi đáng yêu câu chuyện!

ĐỗNguyễn
..nhân ngày 12 nhớ em và những điều anh thương..
Vô đề

Đêm khuya đọc sử Phật giáo,
Lướt bốn thời kì phát triễn
Dần rồi cũng đọc xong

Cây bút chưa tìm thấy,
Nhưng mắt nhíu buồn ngủ ghê
Em dâu, chưa thấy vào!

ĐỗNguyễn

Thursday, 12 February 2015

12 và cây bút

Nhân ngày 12 này
Anh dự tính vẽ phác họa
Hình dáng em

Nhưng cây bút điện tử
Tìm cả đêm không thấy
Đành chờ tìm cho ra

Dù sao, hôm nay
Có dáng em rồi
Anh cũng vui,

Có thể em đang tham gia
Hội nghị và làm việc
Chúc tốt lành nhé!

Room gần Tết thưa vắng
Ở VN lo Tết mà

Nhớ em

ĐỗNguyễn

Mit ơi

Anh ngu vai tieng,
Hi vong luc thuc, co the gap em
Trong blog hay Sk nhe..

anh
ĐN

Wednesday, 11 February 2015

Ngày 12 Celebration

12.Febr. 2015

12

Anh biết khi em thức
Ngày 12 buổi sáng
Gió lặng 22 độ C
Có lẽ em nằm nghe

Tiếng còi tàu hụ thương
Chiều nay anh mua hoa
Về cắm lên bình chưng
Để nhớ nhiều đời đẹp

Tặng em đóa hồng xinh
Thương những da diết mình
Quế Thanh và bạn bè
Vẫn có em bên đời!

ĐỗNguyễn
viết và chụp bình bông cho em cùng xem trước khi anh đi nằm nghỉ chút.. 
anh thấy dáng em thăm blog.. có lẽ giữa giấc ngủ, em tỉnh dậy? 
Lúc này, anh bắt đầu vẽ phác thảo lại.. 

Kinh Udana 5.1- Kinh Vua

Hi Mit,

Gởi nhau 1 bài Kinh mới tìm thấy trong Udana..
Anh dán bản tiếng anh để học.. hihi

ĐN

Kinh Vua


Chương Năm
Phẩm Trưởng Lão Sona

(I) (Ud 47)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala có mặt với hoàng hậu Mallikà trên lầu thượng của hoàng cung, rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với hoàng hậu Mallikà:

- Này Mallikà có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của Hoàng hậu?

- Thưa Ðại vương, không có khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương?

- Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước xuống lầu và đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bê. Ngồi xuống một bên, vua Pesenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi lên lầu thượng của hoàng cung với Hoàng hậu Mallikà và con nói với Hoàng hậu Mallikà: "Này Mallikà, có ai khác thân ái với Hoàng hậu hơn là tự ngã của Hoàng hậu?".

Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hoàng hậu Mallikà trả lời với con: "Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ai với Thiếp hơn là tự ngã của Thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương? " Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời cho Hoàng hậu Mallikà: Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta".

Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này trong lúc ấy liền nói lên bài kệ này:


1. Tâm ta đi cùng khắp,
Tất cả mọi phương trời,
Cũng không tìm thấy được,
Ai thân hơn tự ngã,
Tự ngã đối mọi người,
Quá thân ái như vậy,
Vậy ai yêu tự ngã,
Chớ hại tự ngã người.

--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt2.htm#chuong5

UDĀNA 5.1


DER ORDENSÄLTERE SONA
Der König

So habe ich gehört: Einst weilte der Erhabene bei Sāvatthi im Jeta-Haine, im Klostergarten des Anāthapindika. Damals aber war der Kosaler König Pasenadi mit der Königin Mallikā auf den Söller seines Palastes gegangen. Und der Kosaler König Pasenadi sprach zur Königin Mallikā: „Ist dir wohl, Mallikā, irgendein anderer lieber als du selbst?“ „Nicht ist mir, großer König, irgendein anderer lieber als ich selbst. Ist dir aber, großer König, irgendein anderer lieber als du selbst?“ „Auch mir, Mallikā, ist kein anderer lieber als ich selbst.“

Und als nun der Kosaler König Pasenadi von seinem Palaste herabgestiegen war, begab er sich hin zum Erhabenen, begrüßte den Erhabenen ehrfurchtsvoll und setzte sich ihm zur Seite nieder. Zur Seite sitzend sprach nun der Kosaler König Pasenadi zum Erhabenen also: „Herr, als ich mit der Königin Mallikā auf den Söller meines Palastes gegangen war, sprach ich zur Königin Mallikā: ‚Ist dir wohl, Mallikā, irgendein anderer lieber als du selbst?‘ Nach diesen Worten sprach die Königin Mallikā zu mir: ‚Nicht ist mir, großer König, irgendein anderer lieber als ich selbst. Ist dir aber, großer König, irgendein anderer lieber als du selbst?‘ Also angeredet, Herr, sprach ich zur Königin Mallikā: ‚Auch mir, Mallikā, ist kein anderer lieber als ich selbst.‘“

Da tat der Erhabene, nachdem er erkannt, was dies zu bedeuten hatte, bei jener Gelegenheit folgenden feierlichen Ausspruch: .

„Alle Gegenden habe ich durchwandert, fand aber nichts, was einem lieber wäre als das Selbst. So ist in jedem einzelnen Falle den anderen ihr Selbst; deshalb bereite man keinem anderen Qual aus Liebe zu dem eigenen Selbst.“
--


UDĀNA 5.1

RĀJASUTTAṂ 41
The Discourse about the King

Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time the Kosalan King Pasenadi had gone to the top of the royal palace with Queen Mallikā. Then the Kosalan King Pasenadi said this to Queen Mallikā: “Is there anyone, Mallikā, you love more than yourself?”

“There is no one, Great King, I love more than myself. But is there, Great King, anyone you love more than yourself?”

“For me also, Mallikā, there is no one I love more than myself.”

Then the Kosalan King Pasenadi having come down from the palace went to the Gracious One, and after going and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sat on one side the Kosalan King Pasenadi said this to the Gracious One:

“Here, reverend Sir, having gone to the top of the royal palace with Queen Mallikā I said this to Queen Mallikā: ‘Is there anyone, Mallikā, you love more than yourself?’

When that was said, Queen Mallikā said this to me: ‘There is no one, Great King, I love more than myself. But is there, Great King, anyone you love more than yourself?’

When that was said, reverend Sir, I said this to Queen Mallikā: ‘For me also, Mallikā, there is no one I love more than myself.’ ”

Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:


“Having gone around in all directions with the mind,
There is surely no one found who is loved more than oneself.

“In the same way others each love themselves,
Therefore one who cares for himself should not harm another.”

--
https://suttacentral.net/en/ud5.1

hoa vàng ngày xưa

hoa vàng ngày xưa

hoa vàng ngày xưa

Hoa vàng của em
Những ngày em kể
Thời ở Huế chở sc đi trị bịnh
Thời em mặc áo vải thô
Thời làm bé Lọ lem ngỗ ngáo

Ôi anh yêu biết mấy
Tuổi thơ của em
Tuổi thiếu nữ bôn ba vào Sàigòn
Khuya ngủ tạm ở chợ Vườn Chuối

Và những ngày đại học,
Ký túc xá chăm chỉ
Cùng nhóm bạn thân yêu
Và mối tình sinh viên..

Ôi gặp gỡ với em
Một diệu kỳ
Cho anh yêu em
Được yêu thêm quê hương
..
Cám ơn

ĐỗNguyễn
..ngày mai 12 rồi! Em về blog nhé!

Êm xưa




Êm xưa

Nghĩ về em nơi ấy,
Nằm ru giấc ngủ êm,
Ấm lên hình kỉ niệm,
Bên giường nỗi nhớ thương!

ĐỗNguyễn 
..bài thơ hôm Sunday, 14 September 2014


 

violin

violin
Ông Phật

Ông Phật nắm Gefühl
Ông đưa nó về không hết thảy
Ông hiểu tâm lý ghê!
Ông Phật làm được, người ta viết thế,
Tiếc là anh không sống bên ông thời ấy,
Nên không rõ..

ĐỗNguyễn
..tri dị hành nan

Tuesday, 10 February 2015

Ngộ

Đ. Ngộ

Ngồi miên man nghĩ
Lúc mình yêu nhau, em giận anh
Chụp hình màu áo xanh!

Mặt buồn chẳng trang điểm
Anh yêu hình ấy ghê, kỷ niệm đẹp
Cô bé hay tủi khóc!

Duyên cho ta gặp gỡ,
Đứa nào số phận đều long đong.
Thương nhiều là chổ ấy!

ĐỗNguyễn
.. hônm nay 10.2 rồi, ngày 12 là ngày mốt, nhớ về nha Mit!

40 đề mục thiền

Thành phố xưa/ ĐỗNguyễn


40 đề mục thiền theo Thanh tịnh đạo

60. "Ðề mục thiền đặc biệt" là 40 đề tài thích hợp với cá tính từng người. Nó "đặc biệt" (pàrihàriya) vì vị ấy phải mang (pariharitabbattà) nó luôn theo mình, và vì nó là nhân gần cho một giai đoạn tu tập cao hơn. Người cho một đề tài thuộc hai loại nói trên, là người cho đề tài thiền.

104. 1). Về số lượng: tức 40 đề mục như sau: Mười biến xứ, mười bất tịnh,
mười chỗ tưởng niệm, bốn phạm trú, bốn vô sắc xứ, một tưởng, một phân
tích.

105. 

- Mười biến xứ: là đất, nước, lửa, hư không, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh
sáng, khoảng không có hạn. 


- Mười bất tịnh là: thây phình trứng, thây bầm xanh, thây thú ăn, thây phân lìa, thây rả rời, thây chảy máu, thây sâu đục, bộxương. 

- Mười tưởng niệm là: niệm Phật, pháp, Tăng, Thí, Thiên, niệm chết,
niệm thân, niệm hơi thở, niệm diệt. 



Bốn phạm trú là Từ, Bi, Hỷ, Xả. 
Bốn vô sắc: là Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng.
Một tưởng là tưởng đồ ăn bất tịnh. 

Một phân tích là sự phân tích tứ đại.

106. 2) Cái nào đem lại định cận hành (upacàra), cái nào đem lại định an chỉ
(appanà)? Tám niệm, tức 10 tưởng niệm, trừ thân hành niệm và niệm hơi
thở, quán đồ ăn bất tịnh, và phân tích tứ đại, là mười đề mục chỉ đem lại
định cận hành, còn những cái khác đem lại định an chỉ.

133. Ðến đây, câu "đến gần thiện tri thức, mgười cho một đề mục thiền, và
vị ấy phải hiểu rõ một đề mục trong 40 đề mục, cái nào thích hợp với tính
của mình" (đoạn 28) đã giải thích xong.

Gambas al pil pil

Gambas al pil pil


Món tôm Việt chiên tỏi
Spain gọi Gambas al pil pil
Biết món này em thích!

ĐỗNguyễn
.. ăn với bánh mì Paris

Thế nào là Vô sở hữu xứ?

Chương 40: Tương Ưng Moggallāna

7. Vô Sở Hữu Xứ

..
: “Vô sở hữu xứ, Vô sở hữu xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Vô sở hữu xứ?
Này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: ‘Không có sự vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ”. Này chư Hiền, đây gọi là Vô sở hữu xứ.
Rồi này chư Hiền, sau khi vượt qua Thức vô biên xứ, tôi biết rằng không có sự vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với Thức vô biên xứ được tác ý và hiện hành.
Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggallāna, này Moggallāna, chớ có phóng dật Vô sở hữu xứ. Này Moggallāna, hãy đặt tâm vào Vô sở hữu xứ! Hãy nhứt tâm vào Vô sở hữu xứ! Hãy định tâm vào Vô sở hữu xứ!”
Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, vượt qua Thức vô biên xứ, tôi biết rằng không có sự vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ.
(Như đoạn 8 của kinh trên).

Monday, 9 February 2015

10 lời khuyên trong những lúc gặp khó khăn

10 lời khuyên trong những lúc gặp khó khăn
10 lời khuyên trong những lúc gặp khó khăn




Mời Mit đọc cho vui giờ rảnh..
anh
ĐN


10 lời khuyên trong những lúc gặp khó khăn

Đôi lúc trong cuộc sống, chúng ta đối mặt với những khó khăn, thử thách to lớn và cần một lời động viên, nhắc nhở nào đó để tiếp tục đứng lên đi tiếp. Hi vọng bài viết này sẽ là một lời động viên với những ai đang gặp khó khăn trong cuộc sống.

1. Hạnh phúc không kéo dài mãi mãi, và bản chất của nó là vậy.


Có những lúc bạn cần phải chiến đấu qua những ngày tồi tệ để tiến tới những ngày tươi sáng. Hạnh phúc không phải là một trạng thái kéo dài mãi mãi. Nếu bạn tin rằng bạn có thể đạt tới trạng thái hạnh phúc và ở trong trạng thái đó liên tục thì đó là điều bất khả thi. Nó cũng như ngọn sóng đập vào bờ và tin rằng mình có thể ở mãi nơi đó, hay cây tin rằng mình có thể giữ trái lại nếu như ôm nó thật chặt vậy. Hạnh phúc là một chuỗi những khoảnh khắc. Nó đến và đi, chỉ vậy thôi. Bạn hãy học cách chấp nhận điều đó, và trân trọng những khoảnh khắc hạnh phúc dù là nhỏ bé trong cuộc sống này để thấy yêu quý cuộc đời mình hơn.

Mời bạn xem thêm bài diễn thuyết Hạnh Phúc Để Thành Công của diễn giả Trần Đăng Khoa để hiểu hơn về hạnh phúc của chúng ta.

2. Thất bại dạy cho ta những bài học kinh nghiệm.


Tôi chưa từng thấy bất kỳ người thành công nào mà chưa từng thất bại. Thậm chí một số người trong số họ có thể đã trải qua những thất bại cay đắng mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, chúng ta thường học được những bài học tuyệt vời nhất của cuộc sống này thông qua những thất bại.Và sự thật đó là, bạn sẽ thất bại. Không cần biết là bạn làm gì, bạn sẽ không bao giờ có thể đảm bảo 100% rằng mọi chuyện sẽ xảy ra đúng như ý bạn muốn.

Chính vì vậy, hãy học cách chấp nhận thất bại như một phần của quá trình tiến tới thành công của bạn, và học hỏi từ chúng. Hãy rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu để trưởng thành hơn. Dù sao đi nữa, hoặc bạn sẽ thành công, hoặc bạn sẽ học được một bài học quý giá nào đó. Nhìn cách nào thì bạn cũng đều có lợi cả. Chính vì vậy, hãy hành động. Hãy bước ra ngoài kia, đối mặt với thử thách, và học hỏi từ nó.

3. Có thể bạn không thấy kết quả bây giờ, nhưng bạn đang tiến bộ lên từng ngày


Bảy lần ngã xuống, Tám lần đứng dậy.
Có thể bây giờ bạn vẫn chưa đến được nơi mình muốn đến, nhưng nếu bạn nghĩ kĩ, thì bạn cũng đã không còn dậm chân ở chỗ mà bạn đã từng ở nữa, đúng không? Bạn hãy tin rằng bạn đang tiến về phía trước. Có thể bạn không luôn đưa ra những lựa chọn đúng đắn nhất, nhưng dù sao thì bạn cũng đã vượt qua được những thời khắc khó khăn nhất, và đã bước những bước nhỏ đến nơi mình muốn đến.Nếu bạn muốn khóc một lúc, thì hãy cứ khóc đi. Hãy khóc cho hết những phiền muộn của mình. Khóc đâu phải là dấu hiệu của yếu đuối. Bởi vì từ khi bạn sinh ra, khóc là dấu hiệu cho thấy bạn đang sống và mang trong mình những tiềm năng vô hạn. Sau khi đã khóc xong, hãy tiếp tục bước tiếp! Một cách nào đó, bạn đang ở gần nơi bạn muốn đến hơn rất nhiều rồi đấy.

4. Những gì bạn cảm thấy không phải thước đo chính xác của thực tại


Chỉ vì bạn lo lắng, không có nghĩa là bạn đang gặp nguy hiểm. Chỉ vì bạn cảm thấy mình đang cô đơn, không có nghĩa là chẳng ai yêu thương bạn. Chỉ vì bạn nghĩ rằng bạn có thể thất bại, không có nghĩa là điều đó sẽ xảy ra. Tất cả đều chỉ là những giả định cho đến khi nó thành hiện thực.

Hãy cẩn thận với những lời nói bạn dành cho bản thân. Đôi khi chúng ta tự nói với mình những điều tiêu cực mà chúng ta lại không hề có ý thức về hành động đó. Việc này sẽ khiến chúng ta có một cái nhìn tiêu cực về mọi việc xảy ra xung quanh chúng ta. Hãy chú ý đến ngôn từ của bạn. Và hãy tập cho mình thói quen suy nghĩ và nói những điều tích cực với chính bản thân mình.

Có đôi khi bạn cần phải quên đi cảm giác hiện tại của bạn, và nhớ lại rằng mình xứng đáng nhận được những gì mình muốn, để rồi tiếp tục tiến về phía trước một cách kiêu hãnh.

5. Bạn không thể thay đổi điều mà bạn từ chối đối mặt


Từ chối đối mặt với một điều gì đó không bao giờ có thể thay đổi được hoàn cảnh đó. Bạn không thể học được từ thất bại hay sai lầm của mình nếu bạn từ chối đối mặt nó. Chấp nhận rằng bạn cần phải đối mặt và thay đổi đòi hỏi nơi bạn lòng can đảm rất lớn, và lớn hơn nữa đó là sự dũng cảm dám nhận lấy trách nhiệm cho việc thay đổi nó.

Điều quan trọng nhất đó là bạn cần phải dám bước những bước đầu tiên. Chính hành động đó sẽ tạo đà để bạn tiếp tục hành động tiến về phía trước. Hãy nhớ rằng bạn không thể thay đổi hoàn cảnh, nhưng bạn hoàn toàn có thể thay đổi cách mình phản ứng với hoàn cảnh đó.

6. Bạn không phải là quá khứ của mình

Tôi không cần biết trong quá khứ của bạn có những điều gì đã xảy ra, tương lai của bạn luôn là một tờ giấy trắng thơm tho đang chờ bạn viết lên nó. Bạn không phải là những thói quen trong quá khứ của mình. Bạn không phải là những thất bại trong quá khứ của mình. Cách người khác đối xử với bạn trong quá khứ không đồng nghĩa với việc bạn sẽ bị đối xử như vậy trong hiện tại.

Bạn chính là những gì bạn đang thể hiện ngay tại thời điểm này. Quá khứ không tương đương với tương lai bởi vì ở giữa nó có hiện tại. Bạn không thể thay đổi được quá khứ, nhưng bạn luôn có thể thay đổi hiện tại của mình để tiến tới tương lai tốt đẹp hơn.

7. Đôi khi không đạt được một điều gì đó lại là một điều may mắn

Bởi vì bạn sẽ có cơ hội đánh giá lại tất cả mọi thứ trong cuộc đời mình. “Liệu đó có thật sự là cái mình muốn hay không? Liệu nó có xứng đáng để mình nỗ lực theo đuổi không? Lý do để mình theo đuổi nó là gì?…” Chính những khoảnh khắc này sẽ mở ra cho bạn những khả năng, những lựa chọn mới mà bình thường có lẽ bạn đã không để ý tới.

Hãy nhớ rằng, đôi khi trong cuộc sống này, một số thứ mất đi là để những điều tốt đẹp hơn có thể xuất hiện. Hãy tin tưởng vào điều đó, và tin rằng mất một điều gì đó không phải là quá tệ, mà đôi khi chính điều này lại mang đến cho ta cơ hội mới.

8. Bạn là một sản phẩm “đang trong quá trình hoàn thiện”


Đừng tự mắng nhiếc bản thân bạn vì đang là sản phẩm “trong quá trình hoàn thiện”. Hãy bắt đầu chấp nhận nó. Bạn là những gì tốt nhất của ngày hôm nay. Và việc là sản phẩm “trong quá trình hoàn thiện” nghĩa là bạn mong muốn một tương lai tốt đẹp hơn ở phía trước.

Hãy tự hào vì điều này. Bởi vì chỉ có như vậy bạn mới thật sự khao khát được sống, được học hỏi, được tốt hơn mỗi ngày. Như Steve Jobs đã từng nói: “Hãy luôn khát khao. Hãy cứ dại khờ.” Chúc cho tất cả chúng ta luôn là những sản phẩm “đang trong quá trình hoàn thiện”.

9. Không ai có thể làm thay điều đó cho bạn


Hãy tiếp tục làm những điều mà trái tim bạn tin rằng nó đúng với bạn. Hãy để giấc mơ của bạn lớn mạnh hơn nỗi sợ hãi và hãy để hành động của bạn nói thay những lời sáo rỗng. Đừng để bản thân sống bằng sự may rủi, hãy sống bằng những lựa chọn của chính bạn. Hãy thay đổi, đừng đổ lỗi. Hãy làm tốt hơn bản thân mình mỗi ngày, đừng bận tâm ganh đua với kẻ khác. Hãy lắng nghe nội tâm của mình, không phải ý kiến của những người xung quanh.

Đây là cuộc đời của bạn, và chỉ duy nhất của bạn. Người khác có thể cùng đi với bạn, nhưng không ai có thể đi giùm nó cho bạn.

10. Cuộc sống không dễ dàng, nhưng lại rất đáng sống


Bạn sẽ ngay lập tức thấy thất vọng nếu tin rằng cuộc sống này rất dễ dàng. Để đạt được một thứ gì đó lớn lao và xứng đáng đòi hỏi nỗ lực, thời gian, thất bại, kiên trì… Bạn hãy chấp nhận sự thật này. Và mỗi ngày hãy bắt đầu bằng cách nỗ lực chiến đấu hết sức mình. Nỗ lực mạnh mẽ hơn mình của ngày hôm qua.

Cuộc sống này không dễ dàng, nhưng suy cho cùng nó rất đáng để sống.

Đây là những suy nghĩ của mình, vậy theo bạn thì còn lời nhắn nhủ nào chúng ta có thể dành cho bản thân trong những thời điểm khó khăn nữa không? Hãy chia sẻ với mình ở phần nhận xét phía dưới nhé.

Chúc các bạn luôn sống xứng đáng -

--
http://khemarama.com/10-loi-khuyen-trong-nhung-luc-gap-kho-khan/#sthash.Xje72BKy.dpuf

Architekt Osamu Nishida

Architekt Osamu Nishida
..

Mein Wohnzimmer ist die Straße: (Phòng khách dùng chung)

Để tiết kiệm diện tích, giải pháp là họ dùng chung phòng khách, bếp. Chỉ có nơi ngủ là riêng.(Wohngemeinshaft)

"Im frei zugänglichen Atrium wird gekocht, gegessen und gewohnt. Das Kanagawa Apartment House von Osamu Nishida steht auf einem nur 140 Quadratmeter großen Grundstück und ist ein Beispiel für den Umgang mit minimalem Raum."(1)

--
(1)
http://derstandard.at/2000011371814/Zwischen-Raeumen-leben

Hanh trình xuyên việt

Hành trình xuyên việt

Hi Mit,
Hành trình xuyên việt là giấc mơ của anh, do đó rất vui khi thấy co clip này..

Tháng 9- 2014 Georgy Tarasov 23 tuổi và em  đã quay film bằng máy Canon 5D Mark 3 (để có được độ tương phản và hòa màu tốt hơn) chuyến đi xuyên việt của họ.
Georgy đến từ Moskau, anh thích quay video và có thể thu nhập bằng công việc này.
Hai anh em thường dùng xe gắn máy để đi quay..

Georgy kể:(1)
..
"Toàn bộ thiết bị quay, gồm cả bộ ống kính, chân máy và bộ ray đều được chất lên xe, và rất nhiều cảnh trong video được quay từ xe máy.
Với Georgy, "Việt Nam đẹp đến kinh ngạc. Mọi người đều rất tuyệt, cảnh đẹp đến ngạt thở. Tôi mong được tiếp tục khám phá và lại có dịp được ghi hình những nơi đẹp như thế.
"Tôi hy vọng người Việt Nam thích video của mình. Tôi cảm ơn người Việt đã có những bình luận tích cực và gửi thư đến cho chúng tôi. Cảm ơn rất nhiều."

--
1. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2015/02/150206_vietnam_road_story_russian_brothers
2. Georgy Tarasov (http://vimeo.com/user25512747) và Talisco Music (taliscomusic.com).

 
 

Sunday, 8 February 2015

hoc tap-90. Pankadhà

5. Nếu một trưởng lão Tỷ-kheo, này Kassapa, không ưa thích học tập, không tán thán chấp hành học tập, và đối với các Tỷ-kheo không ưa thích học tập, vị này không khích lệ họ học tập. Còn đối với các Tỷ-kheo ưa thích học tập, vị này không tán thán họ chơn thực và đúng thời. Tỷ-kheo trưởng lão như vậy, này Kassapa, Ta không có tán thán. Vì cớ sao? Vì các Tỷ-kheo khác có thể thân cận với trưởng lão ấy, nghĩ rằng: "Bậc Ðạo sư tán thán vị ấy". Và những ai thân cận với vị ấy, họ có thể chấp nhận tri kiến của vị ấy. Và những ai chấp nhận tri kiến của vị ấy, sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ. Do vậy, này Kassapa, Ta không tán thán Tỷ-kheo trưởng lão ấy. 

--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0810.htm

Em về thăm


món em làm


Em về thăm blog

Mừng vui thấy dáng em sang,
Người về thăm ngỏ vườn đông một thời.
Chờ ai vạn nẻo mù khơi,
Lá xanh ngã nắng mênh mang núi rừng.
Ơn em gót nhỏ dịu dàng,
Tấm lòng cô gái đảm đang quê mình!
Xa em muôn dặm sơn xanh,
Những mong được gặp người em thuở nào!

ĐỗNguyễn
..Hurra, mừng Mit ghé blog lần thứ 1000!

Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc



V. Phẩm Vua Munda(I) (41) Trở Thành Giàu

V. Phẩm Vua Munda
(I) (41) Trở Thành Giàu

1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

2. - Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng tài sản.

3. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.
..
--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm

Friday, 6 February 2015

Dòng kệ



Pháp Danh và Người Phật Tử

http://www.tangthuphathoc.net/nghiencuuph/phapdanhvanguoipt.htm


Trích:

Theo truyền thống Phật Giáo Việt Nam, mỗi khi một tín đồ phát tâm quy y Tam Bảo để chính thức trở thành đệ tử của Đức Phật, vị Bổn Sư sẽ cho một tên mới gồm có hai chữ, gọi là Pháp danh, sau khi đã thọ giới. Pháp danh của người Phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử … ở phía trước mà thôi. Ngoài ra, tín đồ Phật giáo cũng được đặt Pháp danh sau khi qua đời để sử dụng trong lúc cử hành tang lễ, nếu khi còn tại thế chưa quy y.

Pháp danh gồm hai chữ : -Chữ đầu: chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái, theo chữ trong bài Kệ của Vị Tổ môn phái đó. –Chữ thứ hai: do vị Bổn sư tự chọn, dựa theo ý nghĩa tên tục (thế danh) của người đệ tử, để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay đẹp và có tính khuyến tu.

Ví dụ: đệ tử tên Mỹ. quy y với Thầy có pháp danh chữ trước là TÂM, thì chữ trước của đệ tử sẽ là chữ NGUYÊN, chữ thứ hai Thầy chọn là MÃN, tức là NGUYÊN MÃN. Lý do: chữ Nguyên theo thứ tự trong bài kệ của Ngài Tổ Liễu Quán nằm sau chữ Tâm; chọn chữ Mãn là hợp theo ý của tên Mỹ để tạo thành một chữ kép có nghĩa tu hành được tốt đẹp ( Mỹ Mãn).

Đôi khi, tên người đệ tử đã mang sẵn chữ có ý nghĩa đạo và lại phù hợp với chữ trong bài Kệ, thì Vị Bổn Sư giữ nguyên mà không cần thay đổi, hoặc giả tên không thể tìm được chữ ghép thì có thể lấy chữ trong tên của các vị La Hán, Bồ Tát v.v… để tạo thành Pháp danh.

Phật Giáo Việt Nam hiện nay đều xuất xứ từ Thiền Tông và đa số thuộc dòng Tào Động (ở miền Bắc) và, Lâm Tế (ở miền Nam). Các Long Vị của các Ngài Tổ thấy ghi là Lâm Tế, nhưng thực tế Pháp tu lại kiêm cả Tịnh Độ Tông và Mật Tông, ví dụ như, ở Huế hiện tại ít nhất cũng đang truyền thừa theo ba bài Kệ của từng vị Tổ Môn Phái xuất Kệ, các Vị này đều thuộc dòng Lâm Tế.

NHỮNG BÀI KỆ ĐƯỢC DÙNG:

• Môn phái Hải Đức (Huế) và môn phái Thập Tháp Di Đà (Bình Định) dùng bài Kệ của Ngài Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy:

Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh Siêu Minh Thật Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không
Như Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ Châu Lợi Ích Đồng
Tín Hương Sanh Phước Huệ
Tương Kế Chấn Từ Phong.
( Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở khoảng chữ CHƠN)

• Môn phái Ngài Liễu Quán dung bài Kệ sau:


Thật Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Giới ĐịnhPhước Huệ
Thể Dung Viên Thông
Vĩnh Siêu Trí Quả
Mật Khế Thành Công
Truyền Trì Diệu Lý
Diễn Xướng Chánh Tông
Hạnh Giải Tương Ưng
Đạt Ngộ Chơn Không.
(Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở chữ TRỪNG)
Hai dòng nói trên phát triển rất mạnh ở Miền Trung và Miền Nam.

• Môn phái Chùa Quốc Ân (Huế) do Tổ Nguyên Thiều lập dùng bài Kệ của Ngài Đạo Mân đời thứ 31:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
(Quý Thầy cao nhất trong môn phái này đang ở chữ LỆ)

• Môn phái Chùa Chúc Thánh thuộc Ngài Minh Hải Pháp Bảo (Quảng Nam Đà Nẵng) biệt xuất bài Kệ:


Minh Thật Pháp Toàn Chương
Ân Chơn Như Thị Đồng
Chuc Thánh Thọ Thiên Cửu
Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Đắc Chánh Luật Vi Tuyên
Tổ Đạo Hạnh Giải Thông
Giác Hoa Bồ Đề Thọ
Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.

• Ngài Trí Thắng Bích Dung đời thứ 41 biệt xuất bài Kệ:

Trí Huệ Thanh Tịnh
Đạo Đức Viên Minh
Chơn Như Tánh Hải
Tịch Chiếu Phổ Thông
Tâm Nguyên Quảng Tục
Bổn Giac Xương Long
Năng Nhơn Thánh Quả
Thường Diễn Khoan Hoằng
Duy Truyền Pháp Ấn
Chánh Ngộ Hội Dung
Không Trì Giời Hạnh
Vĩnh Kế Tổ Tông.

• Ngài Minh Hành Tại Toại ở Miền Bắc biệt xuất bài Kệ:

Minh Chơn Như Bảo Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chơn Thường.

• Ngài Tri Giáo Nhất Cú Tông Tào Động cũng biệt xuất bài Kệ:

Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh
Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm
Mật Hạnh Nhân Đức Xương Lương Huệ
Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường.

Ba bài Kệ sau cùng này người viết chưa đủ duyên để được gặp Quý Thầy thuộc các Môn Phái đó nên không biết những chi tiết khác.
Ngoài ra, gần đây về phía Nữ Phật Tử cũng có một số được đặt Pháp Danh mang chữ DIỆU, MINH như Phật Giáo Nhật Bản, Trung Quốc v.v….

Trên đây là những điều mà cá nhân người viết đã may mắn được sự chỉ dẫn và giải thích của Quý Thầy trong thời gian học hỏi và phụ giúp về nghi lễ. Ngoài ra, trong Nghi Lễ, Pháp danh chỉ được dùng trong Sớ để tác bạch lên Chư phật và Bồ tát mà thôi, còn như các việc khác, đối với các bậc xuất gia thì có Pháp Tự, Pháp Hiệu; đối với hàng tại gia thì có Tự, Hiệu … Do đó, mà Phật Tử chúng ta rất khó biết được Pháp Danh của Quý Thầy, Quý Sư Cô.

Với sự hiểu biết rất thô thiển qua sự chỉ bày của Quý Thầy và kinh nghiệm bản thân, chắc chắn còn nhiều Môn Phái khác mà chúng tôi không biết. Chúng tôi chỉ mong người Phật tử chúng ta biết được phần nào nguồn gốc, ý nghĩa và sự liên hệ giữa Pháp Danh với chính bản thân mình trong việc tu học.

Ngưỡng mong các bậc Tôn Túc, Thiện Tri Thức chỉ dạy thêm.

Thursday, 5 February 2015

Em xay tuong Phat




Thương người dựng tượng Phật

Ai đi qua núi Sơn trà
Quan Âm tượng trắng xa nhìn biển khơi
Nghe em lượng lớn vô cùng
Góp công xây dựng tượng đài sẽ xây!
Công trình sẽ mãi với đời,
Do người con gái miền Trung thuở nào!
Thương em chí lớn tài cao,
Góp công nghệ thuật, cúng dường tâm linh!

ĐỗNguyễn
..nghe tin em cúng dường xây tượng Phật.

Như lý tác ý

Hello Mit,

Anh kể em nghe, 1 lần ông GT ba hoa về chữ Như lí tác ý trước mặt một ông NT chuyên về VDP. Họ cải nhau lớn chuyện...
Do đó, đề tài này có vẻ đơn giản, tuy vậy anh thấy cần biết rỏ hơn.. Thày NH giảng rõ ràng..



Như lý tác ý
Thích Nhất Hạnh 

Yoniso manasikara

Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm. Chánh là thẳng, tà là nghiêng. Chánh niệm tức là đặt những điều ngay, thẳng và điều tốt đẹp vào trong tâm nhớ nghĩ của mình.

Trong 51 tâm hành có một tâm hành tên là tác ý (manaskara, Pali là manasikara). Tác ý tức là khởi tâm để ý tới một đối tượng nào đó. Trước đó chưa chú ý tới, bây giờ ta chú ý tới, gọi là tác ý. Tác ý là một trong năm tâm sở biến hành. Và tác ý mở đầu cho một niệm. Như khi ta xem một truyện phim hay nghe một bài hát thì hình ảnh hay câu hát khiến cho ta tác ý. Nếu ta biết tu tập thì ta sẽ tác ý tới một điều chính, và ta duy trì điều chính đó lại. Khi nghe chuyện hay nhìn hình ảnh ta cũng có thể tác ý tới một điều bất chánh. Khi ta tác ý tới một điều chánh đáng, phù hợp với tinh thần bốn sự thật, với kiến thức về bốn loại thực phẩm, với giáo lý bát chánh đạo thì đó gọi là như lý tác ý hoặc là như pháp tác ý (yoniso manaskara). Ngược lại là bất như lý tác ý (ayoniso manaskara). Chữ như lý được dịch từ chữ yoniso. Yoni có nghĩa là tử cung, cái cung của đứa con, mọi người đều sinh ra từ đó. Và vì thế yoni ở đây có nghĩa là cội nguồn. Khi đưa về đúng cội nguồn, không lạc hướng, thì gọi là yoniso. Đưa đi lạc khỏi cội nguồn thì gọi là ayoniso, dịch là bất như lý hay là phi như lý tác ý. Thí dụ ở Làng Mai khi nghe tiếng chuông đồng hồ, mọi người trở về với chánh niệm, thở và mỉm cười. Ta lấy chánh niệm để soi sáng và như thế ta thực tập như lý tác ý. Khi nghe một tiếng hát đưa lòng ta tới những thương nhớ vẩn vơ, quên rằng ta đang ở đây để thực tập chánh niệm cùng với tăng thân, thì đó là phi như lý tác ý. Cho nên trong đời sống tu học, chúng ta phải tổ chức như thế nào để có thể thực tập được như lý tác ý trong mỗi giây phút. Khi bước vào nhà bếp, thấy một vị thiền sinh đang xắt cà rốt, tôi hay hỏi: ‘‘Anh đang làm gì đó?’’ Câu hỏi giống như một tiếng chuông để giúp người đó như lý tác ý. Trong một tăng thân tu tập với nhau chúng ta phải giúp nhau gióng tiếng chuông như lý tác ý cho nhau. Cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách nhìn, cách làm việc của ta đều có thể có tác dụng giúp người khác thực tập như lý tác ý. Trong tăng thân chúng ta có những người làm được như vậy. Khi nhìn thấy họ ta tự nhiên trở về được với chánh niệm. Sự có mặt của họ có tác dụng như tiếng chuông tỉnh thức. Xây dựng tăng thân cũng là thực tập để cho mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cái động tác của ta là một tiếng chuông cho chính ta và cho người khác. Trong thiền viện, từ cách trình bày bàn thờ, cắm một bình hoa, một góc chùa cong, một tiếng chuông thỉnh đều chủ ý giúp chúng ta thực tập như lý tác ý. Cái gì trong thiền viện cũng phải được sắp đặt để nhắc nhở chúng ta phải trở về như lý tác ý. Như lý tác ý là giây phút khai sanh của chánh niệm. Ngược lại, nếu chúng ta sống trong một môi trường mà mọi thứ đều khiến chúng ta quên lãng, ta sẽ bị kéo theo bởi những phi như lý tác ý. Ngồi trong một quán rượu, tất cả những điều chúng ta nghe, thấy và cảm bằng sáu giác quan đều có tác dụng đưa chúng ta đi lạc vào phi như lý tác ý.

Khi chúng ta nghĩ tới những danh, lợi, tài, sắc, nhớ tới thuốc hút ‘‘nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên’’, thì niệm đó là tà niệm. Nhớ một người nào đến nỗi không làm ăn gì được, không tu học gì nổi, đó là tà niệm. Có khi chúng ta quán tưởng một dòng nước trong hay là một bầu trời xanh để cho tâm hồn thư thái, để tự nuôi dưỡng trước khi trở về đối diện những khó khăn hiện tại, việc này có thể là như lý vì chúng ta biết mình đang làm gì. Nhưng thường thì chúng ta không biết là mình đang mơ mộng và đang trốn tránh. Mà người tu học không trốn tránh thực tại. Tu học tức là đem chánh niệm chiếu vào đối tượng khổ đau, để tìm ra những nguyên do đã đem tới đau khổ. Mà thấy được khổ đế và tập đế rồi, tự khắc ta thấy được đạo đế. Trốn tránh thì suốt đời ta không giải quyết vấn đề đau khổ của ta và của người.

Chánh niệm là một loại năng lượng để thắp sáng tâm ý. Chúng ta biết trong chiều sâu tàng thức của chúng ta có hạt giống chánh niệm. Không tu tập thì hạt giống bị vùi lấp qua nhiều lớp thất niệm, khổ đau phiền não. Tu tập là chạm vào hạt giống chánh niệm để nó nở thành hoa. Ta hãy tìm cách giữ nó lại trong phòng khách của tâm hành, vì đó là một người khách quý. Người khách đó là Bụt, vì chánh niệm chính là Bụt tương lai. Nuôi dưỡng chánh niệm là làm cho Bụt ở trong ta càng ngày càng sáng tỏ. Người tu tập giỏi có thể nuôi dưỡng ngọn đèn chánh niệm thường xuyên. Ngọn đèn đó sẽ đem chiếu sáng bốn lãnh vực, đối tượng của thiền quán.

Lãnh vực thứ nhất là thân. Thân, tức là uẩn đầu tiên trong ngũ uẩn, gọi là sắc uẩn. Có một kinh chuyên trình bày sự thực tập chánh niệm về thân, gọi là kinh Thân Hành Niệm. Kinh này có trong Trung Bộ (Majjima Nikaya), và cũng có trong bộ Trung A Hàm. Chánh niệm cũng soi sáng lãnh vực thứ hai gọi là lãnh vực cảm thọ. Thọ là những cảm giác của mình, những cảm giác vui, buồn. Những cảm thọ dễ chịu, khó chịu, hoặc không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi là cảm thọ trung tính. Chánh niệm soi sáng lãnh vực thứ ba là tâm ý hay tâm hành. Bất cứ một tâm hành nào phát hiện là chánh niệm nhận diện được. Thấy tầm thì biết là tầm, thấy từ thì biết là từ, thấy tham thì biết là tham, thấy sân thì biết là sân, thấy mạn thì biết là mạn. Chánh niệm nhận diện tất cả 51 thứ tâm hành mỗi khi chúng phát hiện. Sau cùng chánh niệm soi sáng đối tượng của tâm hành, tức là các pháp. Pháp ở đây là tất cả mọi hiện tượng tâm lý cũng như vật lý, và sinh lý. Trước hết pháp là đối tượng của tưởng, tức là tri giác. Ở đây các pháp là đối tượng của tâm hành. Chúng ta soi sáng vừa chủ thể vừa đối tượng của tâm hành.

Chúng ta thường nghĩ nhầm năm uẩn là của một người này hay người kia. Phải nhớ năm uẩn không phải là một cái gì biệt lập, năm uẩn gồm cả chủ thể lẫn đối tượng. Mà đối tượng của năm uẩn bao gồm cả vũ trụ.

Người tu học dùng chánh niệm soi chiếu bốn lãnh vực thân, thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý. Sự soi chiếu này đưa tới tuệ giác, có công năng tháo gỡ và giải thoát cho bản thân người tu học.
--
http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/kinh-gi-ng/39-trai-tim-ca-bt/220-ttcb-09-chanh-nim-va-51-tam-hanh?showall=&start=4

Wednesday, 4 February 2015

Bạn Quế-Thanh vẫn còn đó!

Thanh vẫn bên ta

Quế-Thanh người bạn dễ thương,
Ngày xưa kỷ niệm thân thương thiệt nhiều

Lần nao gặp dưới Muenchen,
Bây giờ lại gặp sau bao tháng ngày!

Bên Thanh còn có bạn bè,
Nhân Công Phước Hải Thắng Chiêu.. quây quần!
..
Gặp nhau bịn rịn chia tay,
Mong Thanh cùng với mọi người an vui!


Thế gian còn mất sự thường!
Riêng anh vẫn nghĩ bạn hiền chẳng xa!

ĐỗNguyễn


Tuesday, 3 February 2015

Bai Kinh Hanh phuc

V. Kinh Ðiềm Lành (Mangala Sutta)

Mangala Sutta: Blessings
translated from the Pali by
Narada Thera

Thus have I heard.[1] On one occasion the Exalted One was dwelling at Anathapindika's monastery, in Jeta's Grove,[2] near Savatthi.[3] Now when the night was far spent, a certain deity whose surpassing splendor illuminated the entire Jeta Grove, came to the presence of the Exalted One and, drawing near, respectfully saluted him and stood at one side. Standing thus, he addressed the Exalted One in verse:
"Many deities and men, yearning after good, have pondered on blessings.[4] Pray, tell me the greatest blessing!"
[The Buddha:]
"Not to associate with the foolish,[5] but to associate with the wise; and to honor those who are worthy of honor — this is the greatest blessing.
To reside in a suitable locality,[6] to have done meritorious actions in the past and to set oneself in the right course[7] — this is the greatest blessing.
To have much learning, to be skillful in handicraft,[8] well-trained in discipline,[9] and to be of good speech[10] — this is the greatest blessing.
To support mother and father, to cherish wife and children, and to be engaged in peaceful occupation — this is the greatest blessing.
To be generous in giving, to be righteous in conduct,[11] to help one's relatives, and to be blameless in action — this is the greatest blessing.
To loathe more evil and abstain from it, to refrain from intoxicants,[12] and to be steadfast in virtue — this is the greatest blessing.
To be respectful,[13] humble, contented and grateful; and to listen to the Dhamma on due occasions[14] — this is the greatest blessing.
To be patient and obedient, to associate with monks and to have religious discussions on due occasions — this is the greatest blessing.
Self-restraint,[15] a holy and chaste life, the perception of the Noble Truths and the realisation of Nibbana — this is the greatest blessing.
A mind unruffled by the vagaries of fortune,[16] from sorrow freed, from defilements cleansed, from fear liberated[17] — this is the greatest blessing.
Those who thus abide, ever remain invincible, in happiness established. These are the greatest blessings."[18]

Notes

(Derived mainly from the Commentaries.)
1.
This Sutta appears in the Sutta-Nipata (v.258ff) and in the Khuddakapatha. See Maha-mangala Jataka (No. 453). For a detailed explanation see Life's Highest Blessing by Dr. R.L. Soni, WHEEL No. 254/256.
2.
Anathapindika, lit., 'He who gives alms to the helpless'; his former name was Sudatta. After his conversion to Buddhism, he bought the grove belonging to the Prince Jeta, and established a monastery which was subsequently named Jetavana. It was in this monastery that the Buddha observed most of his vassana periods (rainy seasons — the three months' retreat beginning with the full-moon of July). Many are the discourses delivered and many are the incidents connected with the Buddha's life that happened at Jetavana. It was here that the Buddha ministered to the sick monk neglected by his companions, advising them: "Whoever, monks, would wait upon me, let him wait upon the sick." It was here that the Buddha so poignantly taught the law of impermanence, by asking the bereaved young woman Kisagotami who brought her dead child, to fetch a grain of mustard seed from a home where there has been no bereavement.
3.
Identified with modern Sahet-Mahet, near Balrampur.
4.
According to the Commentary, mangala means that which is conducive to happiness and prosperity.
5.
This refers not only to the stupid and uncultured, but also includes the wicked in thought, word and deed.
6.
Any place where monks, nuns and lay devotees continually reside; where pious folk are bent on the performance of the ten meritorious deeds, and where the Dhamma exists as a living principle.
7.
Making the right resolve for abandoning immorality for morality, faithlessness for faith and selfishness for generosity.
8.
The harmless crafts of the householder by which no living being is injured and nothing unrighteous done; and the crafts of the homeless monk, such as stitching the robes, etc.
9.
Vinaya means discipline in thought, word and deed. The commentary speaks of two kinds of discipline — that of the householder, which is abstinence from the ten immoral actions (akusala-kammapatha), and that of the monk which is the non-transgression of the offences enumerated in the Patimokkha (the code of the monk's rules) or the 'fourfold moral purity' (catu-parisuddhi-sila).
10.
Good speech that is opportune, truthful, friendly, profitable and spoken with thoughts of loving-kindness.
11.
Righteous conduct is the observance of the ten good actions (kusala-kammapatha) in thought, word and deed: freeing the mind of greed, ill-will and wrong views; avoiding speech that is untruthful, slanderous, abusive and frivolous; and the non- committal acts of killing, stealing and sexual misconduct.
12.
Total abstinence from alcohol and intoxicating drugs.
13.
Towards monks (and of course also to the clergy of other religions), teachers, parents, elders, superiors, etc.
14.
For instance, when one is harassed by evil thoughts.
15.
Self-restraint (tapo): the suppression of lusts and hates by the control of the senses; and the suppression of indolence by the rousing of energy.
16.
Loka-dhamma, i.e., conditions which are necessarily connected with life in this world; there are primarily eight of them: gain and loss, honor and dishonor, praise and blame, pain and joy.
17.
Each of these three expressions refers to the mind of the arahant: asoka: sorrowless; viraja: stainless, i.e., free from lust, hatred and ignorance; khema: security from the bonds of sense desires (kama), repeated existence (bhava), false views (ditthi) and ignorance (avijja).
18.
The above-mentioned thirty-eight blessings.
 
--
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/khp/khp.5.nara.html
Thày Thích Minh Châu dịch:
 
 
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
Thiên tử:
1. Nhiều Thiên tử và người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
(Ðức Phật giảng:)
2. Không thân cận kẻ ngu, (Asevanā ca bālānaṃ, không cọng tác với kẻ ngu)
Nhưng gần gũi bậc Trí,
Ðảnh lễ người đáng lễ,
Là điềm lành tối thượng.
3. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là điềm lành tối thượng.
4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng.
5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi nấng vợ và con.
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng.
6. Bố thí, hành, đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng.
7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong Pháp, không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng.
8. Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Ðúng thời, nghe Chánh Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
9. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế.
Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
Là điềm lành tối thượng.
11. Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn,
Là điềm lành tối thượng.
12. Làm sự việc như vầy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5


V. Das Heil - Mangala-Suttam

[Dieses Suttam findet sich auch im Sutta-Nipāto II, 4. Mangalam bedeutet feierliche Zeremonie, Gottesdienst, religiöser Dienst; Vorzeichen, Omen; Segen, Glück, Heil (vergl. den im nördlichen Buddhismus vielfach begegnenden Gruss: Sarvamangalam ! Heil allerseits!)]

1. So habe ich gehört: Einstmals weilte der Erhabene zu Sāvatthi, im Siegerhaine, im Klostergarten des Armenspeisers. Als nun die Nacht vorgerückt war, begab sich eine gewisse schöngestaltige Gottheit, indem sie den ganzen Siegerhain erhellte, dorthin, wo der Erhabene weilte. Als sie sich dorthin begeben hatte, begrüßte sie den Erhabenen ehrfurchtsvoll und trat seitwärts. Seitwärts stehend redete diese Gottheit den Erhabenen mit dem Verse an:
2.
Viele Götter und Menschen haben,
nach Glück sich sehnend,
an Heil gedacht.
Nenne du das höchste Heil.
[Der Erhabene:]
3.
Den Toren nicht ergeben sein,
den Weisen ergeben sein,
die Verehrungswürdigen verehren:
dies ist das höchste Heil.
4.
Das Wohnen in einem guten Lande,
Verdienst aus früherem Sein,
rechtes Streben des Selbstes:
dies ist das höchste Heil.
5.
Viel Wahrhaftigkeit und gutes Wissen,
ganz durchgeführte Selbstdisziplin
und wohlgesprochene Worte:
dies ist das höchste Heil.
6.
Vater und Mutter unterstützen,
für Weib und Kind sorgen,
eine friedliche Beschäftigung:
dies ist das höchste Heil.
7.
Wohltätigkeit und religiöser Wandel,
Zuneigung zu den Verwandten
und untadelhafte Werke:
dies ist das höchste Heil.
8.
Enthaltsamkeit und Abstehen vom Bösen,
Meidung berauschender Getränke
und Unermüdlichkeit in religiösen Pflichten:
dies ist das höchste Heil.
9.
Ehrerbietung und Demut,
Zufriedenheit und Dankbarkeit,
das Hören des Gesetzes zur richtigen Zeit:
dies ist das höchste Heil.
10.
Geduld und Milde,
der Verkehr mit Asketen
und Unterredung über das Gesetz zur richtigen Zeit:
dies ist das höchste Heil.
11.
Askese (tapo) und keuscher Wandel,
die Erkenntnis der edlen Wahrheiten
und die Verwirklichung des Nirvana:
dies ist das höchste Heil.
12.
Das Gemüt eines von den Dingen der Welt berührten Menschen,
welches nicht erzittert und kummerlos,
leidenschaftslos und frei von Furcht ist:
dies ist das höchste Heil.
13.
Die solches getan haben,
sind überall unüberwunden;
überall wandeln sie glücklich:
ja, ihrer ist das höchste Heil."
--
http://palikanon.com/khuddaka/khuddaka.htm#V

Gambas


 Gambas al Pil Pil 


Mit thân,

Anh thích ăn món này. Hôm nay anh làm món này, ăn cũng ngon. Tiếc là không được hỏi em. Đọc trên net, viết rằng..
Món này, họ chỉ nên ướp trước với tỏi, dầu oliven, muối.. Khi chiên, để chảo nóng, chỉ chiên chừng 2 phút là xong..(Tôm mua đã lột vỏ)
Em nghĩ sao?

ĐN


You will need:

About 40 – 55 Prawns (not pre-cooked and frozen)
1 tablespoon Chilli Garlic Prawns Mix
A good earthenware dish (in Spain this tapa is both cooked and served in the dish)

Method:

Sprinkle the Chilli Garlic Prawns Mix in a dish with the olive oil. You need enough oil to cover all ingredients once in the dish.

Wash and peel the prawns and place in the dish.

Cook on the hob or barbecue for roughly 10 – 15 minutes or until the prawns are thoroughly cooked.

Serve immediately with a basket of fresh bread.


Monday, 2 February 2015

music: unforgiven



Unforgiven, một bài nhạc anh thích..

New blood joins this earth
And quickly he's subdued
Through constant pained disgrace
The young boy learns their rules
With time the child draws in
This whipping boy done wrong
Deprived of all his thoughts
The young man struggles on and on he's known
A vow unto his own
That never from this day
His will they'll take away-eay
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
They dedicate their lives
To RUNNING all of his
He tries to please THEM all
This bitter man he is
Throughout his life the same
He's battled constantly
This fight he cannot win
A tired man they see no longer cares
The old man then prepares
To die regretfully
That old man here is me
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never be
Never see
Won't see what might have been
What I've felt
What I've known
Never shined through in what I've shown
Never free
Never me
So I dub thee UNFORGIVEN
whoa, whoa
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN
You labeled me
I'll label you
So I dub thee UNFORGIVEN
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN
You labeled me
I'll label you
So I dub thee UNFORGIVEN
Never Free
Never Me
So I dub thee UNFORGIVEN

--
Neues Blut schließt sich dieser Erde an
Und schnell ist er unterworfen.
Durch ständige schmerzvolle Schmach
Lernt der junge Mann ihre Regeln.
Mit der Zeit fährt das Kind in
diesen Prügelknaben ein, der etwas falsch gemacht hat.
All seiner Gedanken beraubt
Kämpft der junge Mann weiter und weiter.
Er hat ein Versprechen an sich selbst gekannt,
Dass sie ihm von diesem Tag an niemals mehr seinen Willen nehmen werden.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Sie widmen ihr Leben
Um sein ganzes Leben zu führen.
Er versucht sie alle zufriedenzustellen,
Dieser verbitterte Mann, der er ist.
Sein ganzes Leben lang dasselbe,
Er hat stetig gekämpft.
Diesen Kampf kann er nicht gewinnen.
Sie sehen, dass einem müden Mann alles egal ist.
Der alte Mann bereitet sich darauf vor
Mit Bedauern zu sterben...
Dieser alte Mann hier bin ich.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
...
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals sein,
Niemals sehen,
Ich werde niemals sehen was vielleicht hätte sein können.
Was ich fühlte,
Was ich wusste,
Hat niemals das durchschienen was ich zeigte.
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Du hast mich abgestempelt,
Ich werde dich abstempeln,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Ihr habt mich abgestempelt,
Ich werde euch abstempeln,
Deshalb nenne ich dich unverziehen
Niemals frei,
Niemals ich selbst,
Deshalb nenne ich dich unverziehen

--


http://www.songtexte.com/uebersetzung/metallica/the-unforgiven-deutsch-73d6b20d.html

Sunday, 1 February 2015

Conze

Em, Online và Conze

Online tuyệt vời
Nối liền thế giới

Online..chờ đợi
Nhiều khi tiếc ghê
Khi em login chổ hẹn xưa
Anh lại lỡ..vì không login ..

Anh thích đọc sách
Niềm vui tối thượng

Tuần nay phát hiện
Học giả Conze (1)


Tuyệt vời!

ĐỗNguyễn
.. vẫn chờ em ghé blog
--
1.

Sách đang đọc:
TINH HOA Và SỰ PHÁT TRIỂN của ĐẠO PHẬT
Buddhism- Its Essence and Development
Tác giả Edward Conze - Nguyễn Hữu Hiệu Dịch

Saturday, 31 January 2015

Thanh



Hình anh Du trong hôm nay, với cây đàn

Gặp nhau cùng tiễn bạn!

Mới đi gặp các bạn về,
Đơn sơ hình bóng Thanh
Anh thắp một nén hương
Tưởng nhớ bạn hiền Thanh!

Nhân Công Du Hải Thắng
Và bao nhiêu bạn bè
Anh được gặp chiều nay
Hàn huyên tưởng nhớ Thanh

Chia tay với mọi người,
Ngoài trời mưa tuyết bay
Thấm thoát tiệc cũng xong
Đường về nhà xa xa..

ĐỗNguyễn

Friday, 30 January 2015

1000

thơ


Thức dậy ngóng dáng ai,
Em còn đang ngủ
Các room cũng ít người..

Đường ra tiệm vui vui,
Mưa phùn hòa tuyết rơi
Xe bus bóng màu vàng

Có cây đèn màu đen
Dáng kiểu xưa văn phòng
Máy xấy 1000 watt

Phòng sách vừa đóng cửa
Thôi mai ráng đến kịp
Xem những sách mới về

Đang nấu càphe chợt nhớ
Cách làm của em Quý
Đo nước không dư thiếu

Chợt nhớ đến bạn Thanh
Lễ tưởng niệm ngày mai
Bâng khuâng tiễn bạn xưa

Mưa rơi còn rơi mãi
Tình online mong manh
Vui buồn theo đường net..

ĐỗNguyễn
đang chờ dáng em ghé blog lần thứ 1000..





Giới thiệu Đạo Phật: Lời dạy, Lịch sử và Thực hành

Gioi thieu:

Mit thuong,

Anh vua duoc gioi thieu 1 cuon sach ve dao Phat/ Tac gia, Peter Harvey là giáo sư Phật học tại Đại học Sunderland, Anh quốc. Ông cũng là người sáng lập Hiệp hội Nghiên cứu Phật giáo, Anh quốc, và Hội Thiền định Samatha Trust.

Gioi thieu voi em noi dung so luoc..

Hien nay, anh dang doc cuon Luoc su PG cua E. Conze; xong se doc qua cuon nay..
DN
--
1) Peter Harvey. An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (2013)
(Giới thiệu Đạo Phật: Lời dạy, Lịch sử và Thực hành)


Contents

List of illustrations page xi
List of tables xiii
Preface to the Second Edition, and Acknowledgements xv
A Note on Language and Pronunciation xviii
List of abbreviations xxi

Introduction 1

1 The Buddha and his Indian Context 8

Background to the life of the Buddha 8
The life of the Buddha 14
The nature and role of the Buddha 27
The nature and style of the Buddha’s teaching 29

2 Early Buddhist Teachings: Rebirth and Karma 32

Rebirth and cosmology 32
Karma 39
Belief in rebirth and karma 46

3 Early Buddhist Teachings: The Four True Realities for the Spiritually Ennobled 50

The First True Reality for the Spiritually Ennobled: the painful 52
The Second True Reality for the Spiritually Ennobled: the origin of the
painful 62
The Third True Reality for the Spiritually Ennobled: the cessation of the
painful – Nirvāna 73
The Fourth True Reality for the Spiritually Ennobled: the Path to the
cessation of the painful 81

4 Early Developments in Buddhism 88

The early San˙gha 88
The Abhidhamma 90
The early schools and their doctrines 92
The three aspirations, Jātakas and Avadānas 99
Emperor Asoka and Buddhism 100
Devotion and symbolism in early Buddhism 103
The rise of the Mahāyāna 108

5 Mahāyāna Philosophies: The Varieties of Emptiness 114

The Perfection of Wisdom literature and the Mādhyamika school 114
The Yogācāra school 127
Tathāgata-garbha thought 138
The Avatam
˙
saka Sūtra and the Huayan School 145
A comparative overview of Mahāyāna philosophies and their ideas of
‘emptiness’ 149

6 Mahāyāna Holy Beings, and Tantric Buddhism 151

The path of the Bodhisattva 151
Mahāyāna Buddhology: expansion with regard to the number, location,
life-span and nature of Buddhas 161
The Mahāyāna pantheon 172
The tantric perspective 180

7 The Later History and Spread of Buddhism 194

India and Central Asia 194
Lan˙kā 196
South-east Asia excluding Vietnam 199
The lands of Northern Buddhism 202
China 210
Vietnam and Korea 224
Japan 226
Overview and comparative reflections 235

8 Buddhist Practice: Devotion 237

Focuses and locations of devotional acts 238
Bowing, offerings and chanting 240
The refuges 244
Attitudes to images 247
Protective chanting 249
Some Mahāyāna focuses of devotion 250
Pilgrimage 258
Festivals 259

9 Buddhist Practice: Ethics 264

The role and basis of ethics in Buddhism 264
Giving 267
Keeping the precepts 268
Lovingkindness and compassion 278
Care for the dying and the dead 281
The ethics of social relationships 282

10 Buddhist Practice: The San˙gha 287

The role of monasticism 288
The monastic code of discipline 289
Patterns and types of ordination 294
Nuns 298
The economic base of the monastic life 302
Study and meditation 305
Communal life 310
Relations with the laity 314

11 Buddhist Practice: Meditation and Cultivation of
Experience-Based Wisdom 318

The approach to meditation 319
Qualities to be developed by meditation 321
Approaches beginning with samatha in Southern Buddhism 325
The contributions of samatha and vipassanā meditation in Southern
Buddhism 332
Approaches beginning with vipassanā in Southern Buddhism 334
The classical path of śamatha and vipaśyanā in Northern and Eastern
Buddhism 340
Pure Land visualizations 344
Tantric visualizations 347
Tantric techniques of spontaneity 357
Zen meditation 361

12 The Modern History of Buddhism in Asia 376

Southern Buddhism 377
Eastern Buddhism 402
Northern Buddhism 413

13 Buddhism Beyond Asia 419

The early influence of Buddhism through literature, philosophy and
psychology 419
The Theosophical Society: a bridge between East and West 420
Scholarship 421
The internet, films and music 424
Immigration 424
Categories of Buddhists, and their characteristics and numbers 427
Buddhist missions and organizations 431

Appendix I: Canons of Scriptures 459
Appendix II: Web Resources 463
Bibliography 468
Index 491

Nhớ Quế Thanh

đ. Ngộ ơi,

Khuya nay, check email, biết là Công cùng bạn bè đã đến dự lễ hỏa táng anh Thanh ở Hòa lan hôm nay.. Tro sẽ được vợ anh T. đem về VN.
Ngày mai thứ bảy, ở đây bạn bè cũng tưởng niệm Thanh..
Anh sẽ đến..

ĐỗNguyễn
..nhớ Bạn Thanh.. 

Gởi em bài thơ của anh Công..


Bài thơ của Công viết về Thanh

Vẫn biết Thu về lá phải rơi
Đâu có chi tồn tại mãi trên đời
Mà sao tiễn bạn lòng nao núng
Trống vắng mênh mông một cỏi trời


29.Januar 2015

Thursday, 29 January 2015

Conze

E. Conze và em

Đêm qua thức đến trưa,
Buổi chiều ngủ giấc say
Tĩnh dậy bên em đang ngủ

Tối anh đọc sử Phật giáo
Vô cùng thích!

Bổng nhiên phát hiện
Kho tàng về tác gia tiếng anh!
Mà xưa nay không chú ý đầy đủ!

Rahula, Bodhi
Schuman,
Và bây giờ thêm E. Conze
..

Tuyệt vời!

Nhìn vào blog
Thấy dáng em..
Đã ghé thăm..
Anh mừng..

ĐỗNguyễn
--
http://vi.wikipedia.org/wiki/Edward_Conze

Trứ tác nổi tiếng nhất của E. Conze:
  1. Buddhism. Its Essence and Development (bản dịch Việt ngữ: Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật), Oxford 1951;
  2. Buddhist Meditation, London 1956;
  3. Buddhist Thought in India, London 1962. Bài luận tiêu chuẩn về Đại thừa Ấn Độ;
  4. A Short History of Buddhism, xuất bản 1980.

Wednesday, 28 January 2015

Cô bé trong chum

Ở trong chum

Em trèo vô chum
Tìm tôm khô
Để ăn

Rồi bị kẹt trong đó

Mẹ về
Mới bồng em ra..

Hihi

Khen em
Tuổi thơ
Đã can đảm!

Thương sao!
Cô bé
Đĩnh ngộ!

ĐỗNguyễn

Tháo vác

Thay bóng đèn

Mấy tháng rồi
Trong căn phòng dưới hầm
Đèn tắt

Hôm nay
Thomas thợ điện
Bắt thang
Thay bóng

Đèn sáng!

Lần tới anh sẽ
Tự làm!

ĐỗNguyễn

Quế Thanh

Quế Thanh, thời còn ở Camping với nhau..


Nhớ anh Quế Thanh

Ngày xưa còn trẻ
Nghĩ học xong sẽ về quê hương

Lâu lắm rồi
Không gặp nhau

Giờ anh nghe
Anh Thanh mới mất bất ngờ!

Tin buồn!

Thế là
Không còn dịp gặp nhau nửa!
Quê hương mãi xa!

An ũi chăng lời Phật:
Ai rồi cũng phải chết!

ĐỗNguyễn
..thân anh Thanh thành tro bụi sẽ về Việt nam..




Tuesday, 27 January 2015

Bồ tát



Bồ tát

Anh gọi em
Bồ tát,
Và anh nhớ
Dấu chân chim
Mang tấm lòng
Nhân ái!

Bồ tát của anh ơi,
Em đã lớn lên
Trong tình thương Quán thế,
Và bây giờ,
Em mang
Niềm vui

Đến với đời

Bồ tát
Em!

ĐỗNguyễn