Friday, 31 July 2020

Lỗ Tấn nói gì



Sẽ phân tích và bình luận ý của Nguyễn hải Hoành:

1/ Năm 1936 Lỗ Tấn trăng trối "Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước". Mao Trạch Đông sau cũng nói "Lối thoát của chữ Hán là Latin hoá". Bài viết dưới đây của tác giả Nguyễn Hải Hoành bàn về vài mặt hạn chế của chữ Hán.

- Ý mới

2/ Dân tộc ta thời cổ không có chữ viết. Trong thời kỳ Bắc thuộc, tổ tiên ta đã mượn chữ của người Hán để dùng cho mình, nhưng không đọc theo âm Hán ngữ mà đọc theo âm tiếng Việt, và gọi là chữ Nho, tức chữ của người có học. Chữ Nho không ghi âm được tiếng Việt nhưng đã góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa Việt Nam suốt 2.000 năm cho tới đầu thế kỷ XX, khi nước ta bỏ chữ Nho, dùng chữ Quốc ngữ. Tuy vậy chữ Hán/Nho vẫn có vai trò quan trọng trong việc kế thừa nền văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Hiện nay báo chí đang bàn nhiều về kiến nghị phục hồi dạy chữ Nho ở bậc học phổ thông và về Đề án Ngoại ngữ quốc gia giai đoạn 2016-2020 dự định thí điểm dạy Hán ngữ như một trong ba ngoại ngữ bắt buộc cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 12... Vì thế có lẽ chúng ta nên tìm hiểu thêm về chữ Hán.

- Chỉ nên bắt buộc học tiếng anh, ngoài ra là tự do.(Tây ban nha, pháp, trung..)

3/ Bài này chỉ bàn về vài mặt hạn chế của chữ Hán, không bàn về ưu điểm. Do trình độ non kém của tác giả, bài viết không tránh khỏi có sai sót, xin quý vị chỉ bảo.

- Nên có thêm 1 bài bàn về ưu điểm.

Xét về tính chất, chữ viết hiện dùng của các dân tộc chia làm hai loại: chữ biểu ý (chữ ghi ý, ideography) và chữ biểu âm (chữ ghi âm, phonography). Phần lớn các hệ thống chữ viết đang được dùng trên thế giới hiện nay đều là chữ biểu âm, riêng chữ Hán chủ yếu ghi ý, không ghi âm. Người Hoa đọc chữ Hán theo các âm khác nhau tùy theo dùng phương ngữ (方言, dialect) nào. Trung Quốc (TQ) hiện có bảy phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ. 70% người TQ dùng phương ngữ miền Bắc, sáu phương ngữ còn lại của miền Nam. Hiến pháp TQ quy định toàn dân đẩy mạnh sử dụng tiếng Phổ thông (Standard Mandarin), lấy âm tiếng Bắc Kinh làm chuẩn.

Như chữ viết của các dân tộc khác, ban đầu chữ Hán là chữ tượng hình (pictography), một dạng thô sơ của chữ biểu ý, sau đó hoàn thiện dần. Ở chữ Hán, hình vẽ biến thành các nét vẽ, tức nét chữ; chúng được sắp xếp với nhau theo quy tắc nhất định, hình thành chữ, mỗi chữ nằm trong một ô vuông, vì thế còn gọi là chữ vuông (block word).

Chữ Hán có đặc điểm nhìn chữ không đọc được âm, không hiểu được nghĩa; học chữ nào phải thuộc lòng chữ ấy. Ngô Văn Siêu, chuyên gia TQ từng dịch 25 năm ở Liên Hợp Quốc nói: so với các ngôn ngữ dùng chữ biểu âm, chữ Hán rất khó học, không có hiệu suất và quá già cỗi, không thích hợp với một thế giới số hóa, toàn cầu hóa. Học viện Dịch vụ Ngoại giao Mỹ coi chữ Hán là loại chữ khó học nhất với người nói tiếng Anh. Các nhà Nho nổi tiếng ở ta cũng đều nói chữ Nho “khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng” (Vũ Bội Liêu), “học cho đến chết cũng chưa nhớ nổi một phần ba ”, “người có tài trí phải mất đi tinh lực nửa đời người dùi mài vào cái học ấy, không còn thì giờ và tâm trí để học những cái khác”.1

Vì sao chữ Hán khó học?

Bỏ qua phần nói về văn ngôn, chúng tôi thấy chữ Hán khó học, khó dùng, chủ yếu bởi mấy lẽ:

Có quá nhiều chữ

Hiện chưa có số liệu chính xác về tổng số chữ Hán. Thời Ân - Thương có khoảng 2.000 chữ; thời Hán, sách Thuyết văn giải tự lần đầu thu gom được 9.353 chữ. Sách Ngọc thiên (thời Nam Triều) - 16.917 chữ; sách Tập Vận (đời Tống) -53.525; Khang Hy Tự điển (đời Thanh) - 47.035; Trung Hoa Tự hải (1994) -85.568; Tiêu chuẩn Nhà nước TQ GB18030 (2005) -70.217. Từ điển Tân Hoa online - 20.959 chữ. Kho chữ Hán của Công ty Thiết bị Tư vấn Quốc An Bắc Kinh (kho chữ đầy đủ nhất ở TQ hiện nay) đã nhập được 91.251 chữ có xuất xứ và đã qua kiểm định.

Sau đây chỉ bàn về những chữ thường dùng đã được Nhà nước TQ chuẩn hóa và ghi trong Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng công bố ngày 18/6/2013, là quy phạm kèm theo bộ Luật Ngôn ngữ văn tự thông dụng nhà nước của nước CHND Trung Hoa. Bảng này được làm từ tháng 4/2001, sau 80 cuộc họp, hơn 3.000 lượt chuyên gia tham gia, sửa hơn 90 bản thảo mới ra văn bản cuối cùng, có tính chuẩn mực, tính hiện đại và tính thông dụng. Nhằm ổn định việc dùng chữ trong xã hội, bảng này không phục hồi chữ phồn thể. Bảng gồm 8.105 chữ giản thể, chia ba cấp. Cấp 1 có 3.500 chữ, đáp ứng nhu cầu dùng chữ của giáo dục cơ sở và phổ cập văn hóa. Cấp 2 gồm 3.000 chữ có mức độ sử dụng phổ biến chỉ kém cấp một. 6.500 chữ nói trên đáp ứng nhu cầu dùng chữ của việc xuất bản các văn bản Hán ngữ hiện đại, là những chữ có tần suất sử dụng cao chọn từ chữ của chín Kho Ngữ liệu lớn. Cấp 3 gồm 1.605 chữ thông dụng trong các lĩnh vực như họ tên, địa danh, thuật ngữ khoa học kỹ thuật và văn văn ngôn trong giáo trình ngữ văn trung-tiểu học, đáp ứng nhu cầu dùng chữ của các ngành có quan hệ mật thiết với đời sống đại chúng và phổ cập văn hóa. Tài liệu TQ nói: biết 3.500 chữ cấp 1 là có thể đọc sách báo Hán ngữ hiện đại; tốt nghiệp tiểu học phải biết 3.000 chữ; công dân cần biết 6.500 chữ. Tình trạng có quá nhiều chữ Hán đã gây khó khăn lớn cho người học. Người bình thường khó nhớ được âm và nghĩa của 3.500 chữ cấp 1; viết chữ lại càng khó. Giáo sư triết học Trương Quảng Chiếu ở Bắc Kinh nói ông chỉ viết được 3.000 chữ. Tác giả bài này không nhận được mặt chữ của nhiều chữ cấp 2 và hầu hết chữ cấp 3!


Do chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý, mỗi chữ biểu thị ít nhất
một “ý”, hoặc mỗi “ý” cần biểu thị bằng một chữ nên bao nhiêu
chữ cũng chưa đủ. Trong ảnh: Một loại mỳ sợi tỉnh Thiểm Tây
xưng danh bằng chữ [biáng] 56 nét, không có trong từ điển.

Chúng tôi cho rằng người ta phải tạo ra nhiều chữ chủ yếu do chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý. Chữ biểu ý được tạo ra theo nguyên tắc mỗi chữ biểu thị ít nhất một “ý” (idea), hoặc mỗi “ý” cần biểu thị bằng một chữ. Trên thực tế số lượng “ý” nhiều vô kể, bao nhiêu chữ cũng chưa đủ.

Loài người ngày càng khám phá nhiều cái mới, đời sống ngày càng phong phú, buộc phải tạo thêm chữ Hán mới. Năm 1921 khi viết truyện Cố Hương, Lỗ Tấn đã tạo chữ 猹 [chá] để chỉ con Tra, một loại chồn ăn dưa. Sau khi tiếp xúc với phương Tây, người TQ đã tạo nhiều chữ để gọi tên các khái niệm mới. Như khi người Đức mở nhà máy rượu bia ở Thanh Đảo, người ta tạo chữ 啤 [pí] để chuyển ngữ chữ beer. Năm 1917 nhà thơ Lưu Bán Nông tạo ra chữ 她 [ta] khi ông dịch chữ she trong một kịch bản của Anh Quốc. Ông đã dùng 她khi viết bài thơ tình nổi tiếng Sao tôi không nhớ nàng. Về sau ông lại tạo chữ 它 [ta] để chỉ ngôi thứ ba giống trung, ứng với chữ it tiếng Anh. 她 và 它 đã nhập khẩu khái niệm giống (gender) trong ngôn ngữ phương Tây vào ngôn ngữ TQ quen trọng nam khinh nữ, là một sáng tạo có giá trị nhân văn. Tiếc rằng 他, 她, 它đều đọc cùng âm [ta], nếu chỉ nghe đọc mà không nhìn chữ thì khó biết giống của ngôi thứ ba ấy. Năm 1953, GS Sái Phương Am tạo chữ 砼 [tóng] (Đồng) cấu tạo bởi ba chữ人Nhân, 工Công, 石Thạch, nghĩa là đá nhân tạo thay cho từ 混凝土 [hùn níng tǔ] chỉ bê-tông, nhằm giảm nét chữ từ 30 còn 10… Những chữ mới nói trên đều được Nhà nước công nhận.

Lẽ ra phải hạn chế lượng chữ cho hợp với khả năng nhớ của bộ óc, nhưng người xưa lại cho rằng tạo càng nhiều chữ càng tốt. Rốt cuộc kho chữ Hán chứa rất nhiều chữ hầu như không dùng tới. Sau năm 1949, Chủ tịch Mao Trạch Đông từng chủ trương bỏ bớt một số chữ.

Như có chữ 有 [yǒu] (Hữu, có) rồi thì chỉ thêm chữ 没 [méi] (Một, không) là thể hiện được ý “không có” (没有), hoặc dùng chữ 無 [wú] (Vô, không). Nhưng lại tạo thêm chữ冇 [mǎo] (Mão, không có). Khái niệm “già”, đã có chữ 老 [lǎo] (Lão), lại còn tạo chữ 耄 [mào] (Mạc, già 80-90 tuổi), và chữ 耋 [dié] (Điệt, già 70-80 tuổi]. Nếu mỗi trạng thái già biểu thị bằng một chữ riêng, thì cần bao nhiêu chữ? Cái chết dùng chữ死 [sǐ] (Tử) là đủ, lại vẽ ra chữ 薨 [hong] (Hoăng) để biểu thị cái chết của người làm quan to. Lá chè hái muộn gọi là 荈 [chuǎn] (Suyễn). Chó nhiều lông gọi là 尨 [máng] (Mang). Bò và ngựa lang đen trắng có tên riêng là 牻 và 駹, đều đọc [máng] (Mang). Núi đồi trọc dùng 秃山 [tu shan] (Thốc Sơn) là đủ, lại tạo thêm một chữ đồng nghĩa 屺 [qǐ] (Kỉ). Khái niệm “ba cái” dùng 三个[san ge] (Tam Cá) là được, lại tạo thêm chữ đồng nghĩa 仨 [sa] (Ta)...

Cả thế giới có hàng triệu địa danh, thế nhưng lại tạo chữ riêng để gọi. Như 鄞 [yín] (Ngân) là tên một huyện ở Chiết Giang, 涑 [sù] (Tốc) tên một con sông ở Sơn Tây; 嶧 [yì] (Dịch) tên một ngọn núi ở Sơn Đông... Thậm chí một loại mỳ sợi tỉnh Thiểm Tây xưng danh bằng chữ [biáng] 56 nét, không có trong từ điển.

Rất nhiều ví dụ như trên cho thấy tình trạng tạo chữ Hán ở thời xưa không có quy tắc nghiêm chỉnh, không khoa học, thiếu logic. Về sau, khi thấy cần phải hạn chế số chữ, người ta đã tìm cách dùng chung những chữ cũ nhưng gán thêm ý mới. Như dùng cách giả tá để tạo chữ mới mà không cần thêm chữ có tự dạng khác. Song như vậy lại phát sinh những rắc rối mới.

Nhiều chữ có quá nhiều nét

Chữ Hán cấu tạo bởi các đơn vị nhỏ nhất là nét (筆畫 stroke). Có tám nét cơ bản: chấm, ngang, sổ, phẩy, mác, hất, gập, móc.

Phần lớn chữ Hán có nhiều nét, hình dạng chữ phức tạp, khó nhớ khó viết. Trong bảng 2.000 chữ thường dùng công bố năm 1952 (quy định lượng chữ Hán tối thiểu cho người biết chữ), bình quân mỗi chữ có 11-12 nét, song có đến 221 chữ có hơn 17 nét. Đều là chữ giản thể mà vẫn còn nhiều nét như thế, thực sự khiến người ta ngại học.

Trong 3.500 chữ cấp 1 của Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng chỉ có ba chữ một nét: chữ 一 [yi] (Nhất), chữ丨có bốn âm đọc [gǔn], [shù], [yī], [tuì], và chữ 乙 [yǐ] (Ất). Còn lại 19 chữ hai nét, 52 chữ ba nét, 116 chữ bốn nét, 158 chữ năm nét, 251 chữ sáu nét... Một số chữ quá nhiều nét: chữ 矗 [chù] (Xúc, đứng thẳng) 24 nét, 蠼 [qú] (Cù, tên một loài côn trùng) 26 nét; thậm chí như chữ 齉 [nàng] (Náng, ngạt mũi) có đến 36 nét. Trong Tiêu chuẩn Nội mã Nhà nước GBK (Chinese Internal Code Specification) còn ghi nhận một chữ 48 nét, cấu tạo bởi ba chữ Long phồn thể (mỗi chữ 16 nét), đọc [dá] (sự bay của cả đàn rồng). Một số chữ tạo ra bằng cách đơn giản xếp chồng cùng một chữ, như 姦 [jian] (Gian, gian dối), 掱 [pá] (Vát, kẻ móc túi)… Chữ nhiều nét nhất có 64 nét, ghép bởi bốn chữ Long (hai trên, hai dưới), đọc [zhé], (lải nhải, lắm điều).

Các nét sắp xếp rất phức tạp, gây khó cho việc viết và phân biệt chữ. Như trong chữ曰 [yue] (Viết), nét ngang không chạy hết khung vuông mà chừa lại một khoảng cách rất nhỏ, khó phân biệt với chữ日 [rì] (Nhật). Bộ 臼 ở ba chữ cùng đọc [jìu]: 臼 (Cựu),桕 (Cựu), 舅(Cữu) có cấu tạo hai nét ngang trong ô vuông cách nhau một cự ly quá nhỏ rất khó tạo được khi viết chữ nhỏ. Chữ 丐 [gài] (Cái) khác 丏 [miǎn] (Miễn) ở một nét gập cực ngắn nên rất dễ nhầm với nhau. Do các nét quá gần nhau nên chữ nhiều nét không thể viết nhanh, viết nhỏ được, và đọc rất hại mắt. Ở thời đại in bằng bản khắc gỗ, chữ in ra thường mất nét.

Vì viết chữ trên mai rùa hoặc thẻ tre rất mất công, người xưa đã tìm cách bớt nét chữ. Từ đầu thế kỷ XX, giới học giả đưa ra nhiều phương án giảm nét chữ. Sau năm 1949, nước CHND Trung Hoa đã thực hiện thành công việc đơn giản hóa chữ Hán: Năm 1956 công bố 515 chữ giản thể. Năm 1986, công bố 2.235 chữ giản thể. Năm 2013 công bố Bảng chữ Hán quy phạm thông dụng có kèm theo Bảng đối chiếu chữ Quy phạm với chữ phồn thể và chữ dị thể.

Có quá nhiều chữ đồng âm

Chữ đồng âm tức chữ cùng âm nhưng khác mặt chữ và nghĩa, vì thế khi nghe đọc rất dễ hiểu nhầm ý, viết nhầm chữ. Như 越, 粤 đọc cùng âm [yuè] (Việt), nếu không nhìn mặt chữ sẽ dễ lẫn lộn giữa tên riêng tỉnh Chiết Giang với tên riêng tỉnh Quảng Đông.

Chúng tôi thử thống kê theo Tân Hoa Tự điển bản in 2006, thấy chỉ có 21 chữ không có chữ đồng âm, như 给 [gěi], 能 [néng],日 [ri],...; 10 âm có hai chữ đồng âm và bảy âm có ba chữ đồng âm. Còn lại đều có ít nhất bốn chữ đồng âm. Những âm có nhiều chữ đồng âm nhất là: âm [yi] có 147 chữ, âm [xi] - 123, [ji] -122, [yu] -118, [zhi] - 96, [li] -86, [shi] - 79, [wei] -70, [ju] - 68, [bi] - 66, [wu] - 64, [jie] - 61, [jiao] -60, [xian] - 57...

Theo chúng tôi, sở dĩ có nhiều chữ đồng âm là do Hán ngữ quá nghèo âm tiết. Trong khi đó, kho chữ lại có quá nhiều chữ, vì thế buộc phải tạo nhiều chữ đồng âm. Tài liệu TQ nói Hán ngữ cả bốn thanh điệu có khoảng 1.200 âm tiết. Chúng tôi thấy trong Tự điển nói trên, toàn bộ chỉ có 415 âm tiết; tính cả bốn thanh điệu thì cũng không quá 1.200 âm tiết. Nếu chia 91.251 (tổng số chữ Hán) cho 1.200 âm tiết, bình quân mỗi âm có hơn 70 chữ đồng âm.

Theo chúng tôi, tình trạng có quá nhiều chữ đồng âm là hậu quả tất nhiên của chữ biểu ý, bởi lẽ số âm tiết con người có thể phát âm được thì quá ít so với lượng chữ cần tạo ra.
Tình trạng lạm phát chữ đồng âm đã mang lại lắm rắc rối. Khi nghe nói, nghe hát, người nghe rất dễ hiểu nhầm ý nghĩa chữ. Ví dụ 怎麽辦 (làm thế nào) nhầm với 怎麽拌 (trộn thế nào); chữ 訂 (Đính) nhầm với 定 (Định), chữ灰 (Khôi, tro) nhầm với 恢 (Khôi, rộng lớn), chữ 坐 (Tọa, ngồi) nhầm với 座 (Tọa, chỗ ngồi)… Phim TQ thường phải thêm phụ đề chữ cho ca từ để không bị nghe nhầm. Khi đọc trên đài truyền thanh, truyền hình hoặc khi nói chuyện, nếu gặp chữ dễ gây nhầm lẫn, người nói phải giải thích cấu tạo chữ đó. Như khi nói tới họ Lý 李 [li], phải nói rõ đây là “木子李 Mộc Tử Lý” để người nghe hiểu đúng mà không nhầm với 86 chữ khác cùng âm [li]. Khi đánh chữ Hán bằng máy tính theo hệ abc, ví dụ chữ 亿 [yi], sau khi gõ yi, màn hình hiện ra 147 chữ cùng âm, phải dò từ 147 chữ ấy để lấy ra chữ 亿.

Có nhiều chữ đa âm đa nghĩa

Đa âm tức có ít nhất hai âm đọc. Sở dĩ nhiều chữ đa âm là do số chữ Hán tạo ra không đủ dùng, phải dùng chữ đã có nhưng gán cho nó âm đọc mới và nghĩa mới. Tài liệu TQ nói trong 3.500 chữ thường dùng có 250 chữ đa âm; hoặc chữ đa âm chiếm 16,7% kho chữ Hán; Tự điển Tân Hoa có hơn 600 chữ đa âm. Như chữ 参 có ba âm: [can] (Tham: tham gia, tham khảo), [cen] (Sâm: so le), [shen] (Sâm: nhân sâm). Chữ nhiều âm nhất là 和 có năm âm : [hé] (Hòa: hòa giải), [hè] (Họa: phụ họa), [huó] (Hòa: trộn, nhào), [huò] (Họa: 和稀泥 hòa giải vô nguyên tắc), [hú] (Hòa: Ù ván tổ tôm).

Chữ đa âm đa nghĩa còn gọi là chữ Phá âm 破音字. Như 給 dùng với nghĩa “cho” thì đọc [gěi], dùng với nghĩa “cung ứng” phải đọc [jǐ]. Chữ 數 có ba âm đọc là [shù], [shǔ], [shuò], mỗi âm có một nghĩa khác nhau, rất dễ đọc nhầm dùng nhầm.


Phần lớn chữ Hán có nhiều nét, hình dạng chữ phức tạp, khó nhớ khó viết.
Trong ảnh: Chữ 齉 [nàng] (Náng, ngạt mũi) có đến 36 nét.

Cá biệt có chữ đa âm nhưng cùng nghĩa, như 誰 (Thùy, ai) đọc [shéi] hoặc [shuí] đều được. Một số chữ khi đứng trong các từ ngữ khác nhau thì phải đọc khác nhau nhưng nghĩa vẫn như nhau. Như chữ 血 (Huyết, máu) đọc [xiě] trong văn nói, nhưng đọc [xuè] trong văn viết.

Chữ có một nghĩa gọi là chữ đơn nghĩa, có từ hai nghĩa trở lên gọi là chữ đa nghĩa, tức có những nghĩa khác nhau khi nó đứng trong các từ ngữ hoặc câu khác nhau.

Thông thường đa nghĩa là do chữ có những âm đọc khác nhau. Chữ Hán khi mới tạo ra đều là chữ đơn nghĩa, nhưng trong quá trình sử dụng lâu dài, một số chữ dần dần trở thành đa nghĩa. Phần lớn chữ Hán hiện đại là chữ đa nghĩa.

Chữ đa âm đa nghĩa làm cho người ta nhìn chữ mà không biết đọc và hiểu thế nào, nhất là với chữ đơn độc, có khi gây hiểu lầm đáng tiếc. Năm 1957, TQ lập Khu Tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đặt tên 广西僮族自治区 thì năm 1965 phải đổi chữ 僮 trong cụm từ đó thành chữ 壮. Lý do: chữ 僮 có hai âm đọc: [tóng] (Đồng: đầy tớ trẻ con, thằng nhỏ) và [zhuàng] , nên có thể gây hiểu nhầm là “dân tộc đầy tớ trẻ con” ; trong khi chữ 壮 chỉ có một âm [zhuàng] nên không thể đọc nhầm, hiểu nhầm.


Một số chữ tạo ra bằng cách đơn giản xếp chồng cùng một chữ, như chữ [dá]
(sự bay của cả đàn rồng), cấu tạo bởi ba chữ Long phồn thể (một trên, hai dưới,
tổng cộng 48 nét); hay chữ [zhé] (lải nhải, lắm điều),ghép bởi bốn chữ Long phồn thể
(hai trên, hai dưới), cũng là chữ Hán có nhiều nét nhất - 64 nét.

Phỏng đoán tương lai của chữ Hán

Ngôn ngữ là công cụ tư duy, và nó cũng phản ánh tư duy. Ngôn ngữ biểu ý có đặc điểm là muốn hiểu đúng thì phải nhìn mặt chữ, điều đó tạo ra thói quen coi nhẹ sự phân biệt âm đọc của chữ, tùy tiện tạo nhiều chữ đồng âm. Hán ngữ hơn 4.500 năm dừng lại ở giai đoạn dùng chữ biểu ý mà không chuyển sang chữ biểu âm như phần lớn các ngôn ngữ khác, điều đó thể hiện đặc điểm tư duy của người Hoa. Trên thực tế chữ Hán đã trải qua nhiều thăng trầm.

Trong hàng nghìn năm, người Hoa có tâm lý kính sợ “chữ Thánh hiền”, coi mỗi chữ đều là kết tinh trí tuệ của tổ tiên, chuyên chở và kế thừa truyền thống văn hóa của họ.

Cuối thế kỷ XIX, khi tiếp xúc với phương Tây, giới trí thức TQ thấy chữ viết của người ta quá dễ học, nhờ thế phần lớn dân biết chữ, dân trí cao, khoa học kỹ thuật tiên tiến, dân giàu nước mạnh. Ngược lại, chữ TQ quá khó học, vì thế hầu hết dân mù chữ, ngu dốt, đất nước lạc hậu, yếu hèn, kết quả bị phương Tây bắt nạt. Thời phong trào Ngũ Tứ, các học giả tiên tiến và các lãnh tụ cộng sản TQ đổ lỗi tình trạng đó cho đạo Khổng và chữ Hán, chê chữ vuông là loại chữ “dã man, lạc hậu”. Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Tiền Huyền Đồng nêu khẩu hiệu “Muốn phế bỏ Khổng học, không thể không trước tiên phế bỏ chữ Hán ” và yêu cầu toàn dân học tiếng Anh từ tiểu học, bỏ tiếng TQ2. Mao Trạch Đông nói chữ phồn thể là rào cản do giai cấp thống trị phong kiến đặt ra để độc quyền tri thức, ngăn cản nhân dân làm chủ tri thức.

Từ đó trở đi, giới tinh hoa TQ dốc sức cải cách chữ Hán. Đại để theo ba bước: - đơn giản hóa chữ Hán để xóa nạn mù chữ, - ghi âm chữ Hán để thống nhất âm đọc Hán ngữ trong cả nước, - thay chữ Hán bằng một loại chữ biểu âm để Hán ngữ hòa nhập với ngôn ngữ toàn thế giới.

Sau năm 1949, Chính phủ TQ tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Đã hoàn tất việc đơn giản hóa chữ Hán, nhiều chữ được bớt nét, trở thành chữ giản thể; nhờ thế xóa gần hết nạn mù chữ. Rồi lại thành công làm ra hệ thống ghi âm (phiên âm/ chú âm) chữ Hán bằng chữ Latin, qua đó thống nhất trong phạm vi cả nước âm đọc từng chữ trong hệ thống tiếng Phổ thông, tạo điều kiện thống nhất ngôn ngữ và dân tộc, đồng thời tạo thuận tiện cho việc dùng chữ cái Latin phiên âm các danh từ riêng của Hán ngữ, xếp sắp chữ Hán trong các loại tự điển và làm chỉ mục (index) trong các văn bản in ấn, thúc đẩy Hán ngữ hòa nhập toàn cầu.

Nhưng sau đấy việc nghiên cứu thay chữ Hán bằng chữ biểu âm bị dừng lại. Có lẽ đó là do người Hoa trên thế giới cho rằng chữ Hán là tiêu chí của nền văn minh Trung Hoa, gắn với lịch sử và truyền thống dân tộc, bỏ chữ Hán nghĩa là xóa bỏ lịch sử và nền văn minh Trung Hoa, họ không cho phép làm thế. Vì vậy Chính phủ TQ đã ban hành luật ngôn ngữ, khẳng định phiên âm/ ghi âm chữ Hán chỉ là một công cụ bổ trợ, không được coi là văn tự chuẩn bị thay thế chữ Hán. Biên bản Hội nghị công tác văn tự toàn quốc ngày 31/5/1986 nói rõ: Trong một thời kỳ tương đối dài sau đây, chữ Hán vẫn là văn tự pháp định của nhà nước.

Như vậy là biên bản này vẫn dành hy vọng cho các học giả chủ trương phiên âm hóa Hán ngữ, tức thay chữ Hán bằng một loại chữ biểu âm. Họ tin là sớm muộn mọi người sẽ nhận ra sự bất lợi lâu dài của việc dùng chữ biểu ý trong một thế giới toàn cầu hóa, tin học hóa.

Theo chúng tôi, chủ trương phiên âm hóa Hán ngữ là đúng nhưng không thể thực hiện. Lý do: đã quá muộn, không thể vượt qua trở ngại có quá nhiều chữ đồng âm. Các loại chữ tượng hình-biểu ý đều chuyển thành chữ biểu âm từ rất sớm, ít nhất cả nghìn năm trước, khi số chữ chưa nhiều, số người dùng chữ còn rất ít. Riêng chữ Hán suốt 4.500 năm không thay đổi, kho chữ nay đã có khoảng 100 nghìn chữ, được 1,4 tỷ người sử dụng, đã quá muộn để thay đổi thói quen mấy nghìn năm của từng ấy người.

Như đã nói, loại chữ biểu ý nào cũng đều có nhược điểm bẩm sinh là cần quá nhiều chữ, bao nhiêu cũng không đủ. Để bớt số chữ, buộc phải mượn chữ đã có để thêm nghĩa mới, âm mới. Hậu quả là chữ Hán ngày càng có quá nhiều chữ đồng âm, chữ đa âm đa nghĩa. Giả thử chỉ nghe hoặc chỉ xem phần chữ Latin phiên âm của chữ Hán, thì sẽ nhầm lẫn, không thể nào hiểu được. Ví dụ khi nhìn mấy chữ Hán đồng âm 施氏食獅史 (Thi thị thực sư sử: Chuyện ông Thi ăn thịt sư tử)3, người TQ có thể hiểu ý mấy chữ đó; nhưng nếu phiên âm bằng chữ Latin sẽ được “shī shì shí shī shǐ”, đọc mấy chữ ấy không ai có thể hiểu nghĩa là gì. Khi viết từ “công kích攻擊” bằng chữ Latin “gong ji” sẽ có thể nhầm với từ đồng âm “công kê 公雞” là “gà trống”... Nói cách khác, nếu Hán ngữ dùng chữ biểu âm thì khi đọc lên người nghe sẽ chẳng hiểu hoặc hiểu nhầm. Tóm lại, tình trạng có quá nhiều chữ đồng âm đã làm thất bại mọi cố gắng chuyển Hán ngữ sang dùng chữ biểu âm.

Năm 1936 Lỗ Tấn trăng trối Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước. Mao Trạch Đông sau cũng nói Lối thoát của chữ Hán là Latin hoá. Nhưng năm 2009, Vương Mông - nguyên Bộ trưởng Văn hóa - tuyên bố tại Đức: TQ không thể thay đổi chữ Hán… nếu không sẽ mất nước. Như vậy xem ra chưa thể khẳng định về tương lai của chữ Hán. Có lẽ Hán ngữ sẽ giữ nguyên trạng như ngày nay, khó có cải tiến gì lớn. Nhưng không thể nói Hán ngữ là tử ngữ, vì nó hiện vẫn được nhiều người dùng nhất thế giới.

Lịch sử cho thấy nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm đạt được ít thành tựu có tác dụng to lớn thúc đẩy sự tiến bộ của loài người. Trong cuốn Vì sao người TQ ngu thế4 triết gia Li Ming đã phân tích vấn đề đó, cho rằng chủ yếu do người TQ thiếu tư duy logic và luôn tự cho mình thông minh, nhưng không rõ vì sao tác giả chưa nói gì về vai trò của chữ Hán.
Có thể thấy do chữ Hán khó học nên thời xưa hầu hết dân chúng mù chữ, chỉ một thiểu số biết chữ nhưng lại phải dành phần lớn cuộc đời vào việc học và dùng chữ cho nên không còn thời gian nghĩ tới khoa học, triết học. Hầu như họ chỉ dùng chữ để làm thơ ca, chép sử..., rất ít làm khoa học kỹ thuật. Học giả W. C. Hannas nhận xét: Việc học thuộc lòng chữ Hán tạo ra ở người TQ thái độ tuân theo quy củ và thói quen trọng phương pháp mà không trọng kết quả, mất rất nhiều thời gian vào việc viết chữ, thiếu thời gian suy nghĩ.5

Tâm lý thần bí kính sợ chữ Hán cũng góp phần hạn chế phổ cập thứ chữ này, bởi lẽ cái gì thần bí thì rất ít người nắm được, và kẻ nắm được chữ Hán thì lại dùng nó để thực hành chuyên chế độc tài, cố ý để dân chúng mù chữ nhằm dễ sai bảo. Đại học giả ngôn ngữ Lã Thúc Tương nói: TQ có thực hiện phiên âm hóa chữ viết thì mới thực hiện được dân chủ.
Ngoài ra, chữ biểu ý không thích hợp với tư duy trừu tượng. Nhìn chữ biểu ý, ta sẽ có ngay nhận thức cảm tính, như nhìn chữ 帽 nghĩ tới cái mũ. Nhưng nhìn chữ a sẽ chẳng nghĩ tới cái gì. Nhận thức cảm tính có thể che lấp sự xuất hiện nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Như Hannas nói: Học Hán ngữ sẽ thúc đẩy tư duy thực tiễn chứ không phải tư duy trừu tượng, do đó làm yếu sức sáng tạo ở tầng sâu. Hệ chữ cái phương Tây có thể sớm trau dồi năng lực phân tích và suy nghĩ trừu tượng.

Ngày nay, sự phát triển công nghệ tin học và mạng đang giảm dần các khó khăn trong việc học và dùng chữ Hán. Nhớ và viết chữ phồn thể vẫn chậm và khó hơn chữ giản thể, nhưng đánh chữ trên máy tính thì như nhau. Vì thế có lẽ quan điểm phục hồi chữ phồn thể sẽ ngày càng được nhiều người tán thành. Trong kỳ họp Quốc hội TQ tháng 3/2015, hai đạo diễn Phùng Tiểu Cương và Trương Quốc Lập đã đưa ra đề án khôi phục 100~200 chữ phồn thể có hàm nghĩa văn hóa nhằm kế tục nét đẹp của văn hóa truyền thống. Đề án này tuy trái với Luật ngôn ngữ văn tự nhưng vẫn được dư luận quan tâm.
--------
1 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=78&rb=06
2 Thời Minh Trị một số học giả Nhật nổi tiếng cũng nêu đề nghị tương tự.
3 Trích từ một đoạn “kỳ văn” do nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Triệu Nguyên Nhiệm viết hồi năm 1930 ở Mỹ, được in trong Encyclopædia Britannica dưới tiêu đề  Story of Stone Grotto Poet: Eating Lions.
4 http://nghiencuuquocte.org/2016/08 /28/vi-sao-nguoi-trung-quoc-ngu/
5 http://www.nytimes.com/2003/05/ 03/books/writing-as-a-block-for-asians.html.

bạn Luân



1
Khuya nằm nghỉ
Mơ trong cảnh có ông bạn Luân xa xưa
Trong mơ nhớ đến chiếc áo màu nâu nhạt của bạn ấy
và cả nụ cười của bạn cũ.

Khi tỉnh dậy
Biết đây là lần đầu gặp bạn Luân trong mơ

ĐN

Tuesday, 28 July 2020

Trẻ/Già



1/ Nước chấm

2/ Chrome

3/ Dùng chữ: viêm khoang khác với dị ứng.

4/ Pháp nhãn/ Tuệ nhãn

5/ Giá trị của đúc kết/ tổng kết/ tóm tắt < pháp tư duy quy nạp.

ĐN

Phim 16 mm






Chia tay hoang hon

1. Phim 16 mm

2. Nghẹt mũi, làm gì

3. Khi khỏe, làm việc nhé!

4. Sao không đi thêm 1 chút, thì đã đến nước Pháp?

5. Làm ăn với Trung+, nước Đức có lợi gì, nguy cơ gì ?



Monday, 27 July 2020

Chuyện đổ rác

Hoa sen


1. Chuyện đổ rác

2. Cái kéo đâu rồi

3. Kiến tha lâu đầy tổ

4. Cetirizin

5. Biết thêm điều gì?

ĐN
còn tiếp

Saturday, 25 July 2020

Bỏ nhà cũ đi về quê



Jessy phải rời nhà, nơi ông đã ở 40 năm từ lâu lắm.
Việc cần làm là dọn nhà.
Jessy sẽ đi về Ba-lan, do đó Jessy không dọn nhà mà
đơn giản là đem đồ đạc vất đi.
Kể sau..

DN

Saturday, 18 July 2020

POMPEO, BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO/ Lập trường của Hoa Kỳ về các Yêu sách trên biển ở Biển Đông






Lập trường của Hoa Kỳ về các Yêu sách trên biển ở Biển Đông
MICHAEL R. POMPEO, BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO
NGÀY 13 THÁNG 7 NĂM 2020

ĐO-NGUYEN tạm dịch từ nguồn gốc (link 1) ngày 15.07.2020


Hoa Kỳ bảo vệ một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Ngày nay chúng tôi đang tăng cường chính sách Hoa Kỳ trong một phần quan trọng, gây tranh cãi của khu vực này - Biển Đông. Chúng tôi tuyên bố: yêu sách của Bắc Kinh đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi ở hầu hết Biển Đông cũng như chiến dịch bắt nạt nhằm kiểm soát chúng là hoàn toàn bất hợp pháp.

Ở Biển Đông, chúng tôi tìm cách giữ gìn hòa bình và ổn định, duy trì tự do biển cả theo cách phù hợp với luật pháp quốc tế, duy trì dòng chảy thương mại không bị cản trở và phản đối mọi nỗ lực sử dụng cưỡng chế hoặc ép buộc để giải quyết tranh chấp. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích sâu sắc và tuân thủ này với nhiều đồng minh và đối tác của chúng tôi, những người từ lâu đã tán thành một trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc.

Những lợi ích chung này đã bị đe dọa chưa từng có từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa). Bắc Kinh sử dụng mối đe dọa để làm suy yếu quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển Đông Nam Á ở Biển Đông, bắt nạt họ ra khỏi các nguồn lực ngoài khơi, khẳng định sự thống trị đơn phương và thay thế luật pháp quốc tế bằng “lẽ phải của kẻ mạnh”. Cách tiếp cận của Bắc Kinh đã rõ ràng trong nhiều năm. Vào năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Dương Khiết Trì/ Yang Jiechi đã nói với các đối tác ASEAN của mình rằng “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là các nước nhỏ và đó chỉ là sự thật”. Cách nhìn kiểu thế giới săn mồi của CHND Trung Hoa không có chỗ trong thế kỷ 21.
CHND Trung Hoa không có căn cứ pháp lý để đơn phương áp đặt ý chí của mình lên khu vực. Bắc Kinh đã không đưa ra một cơ sở pháp lý nhất quán nào cho yêu sách của mình về yêu sách ”đường chín đoạn” trên Biển Đông kể từ khi chính thức tuyên bố vào năm 2009. 

Trong một quyết định nhất trí vào ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa án Trọng tài được thành lập theo Luật Công ước Biển 1982 - mà CHND Trung Hoa là một quốc gia thành viên - đã bác bỏ các yêu sách trên biển của CHND Trung Hoa là không có cơ sở trong luật pháp quốc tế. Toà án đứng về phía Philippines, nơi đưa ra vụ kiện trọng tài, trên hầu hết các yêu sách.

Như Hoa Kỳ đã tuyên bố trước đây và như được quy định cụ thể trong Công ước, quyết định của Toà án Trọng tài là quyết định cuối cùng và ràng buộc về mặt pháp lý đối với cả hai bên. Hôm nay chúng tôi xác định rõ lập trường của Hoa Kỳ đối với các yêu sách trên biển của Trung Quốc trong Biển-Đông so với phán quyết của Toà trọng tài. Đặc biệt là:
  • CHND Trung Hoa không thể xác nhận một cách hợp pháp một yêu sách trên biển - bao gồm mọi yêu sách của Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) có nguồn gốc từ rạn san hô Hoàng Nham/Scarborough và phần quần đảo Trường Sa - đối diện/ vis-a-vis với Philippines trong các khu vực mà Toà trọng tài tìm thấy ở EEZ của Philippines hoặc trên vùng EEZ của Philippines thềm lục địa. Việc Bắc Kinh quấy rối nghề cá và phát triển năng lượng ngoài khơi của Philippines trong các khu vực đó là bất hợp pháp, cũng như bất kỳ hành động CHND Trung Hoa đơn phương nào để khai thác các tài nguyên đó. Theo quyết định ràng buộc về mặt pháp lý của Toà trọng tài, CHND Trung Hoa không có yêu sách về lãnh thổ hoặc trên biển hợp pháp đối với Đá Vành Khăn/Mischief Reef hoặc hay Bãi Cỏ Mây/Second Thomas Shoal, cả hai đều thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, cũng như Bắc Kinh không có bất kỳ yêu sách lãnh thổ hay quyền lãnh thổ nào từ những tính năng này.
  • Vì Bắc Kinh đã không đưa ra yêu sách trên biển hợp pháp, chặt chẽ ở Biển Đông, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển nằm ngoài vùng lãnh hải 12 hải lý xuất phát từ các đảo mà họ tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa (mà không phương hại đến yêu sách chủ quyền của các quốc gia khác đối với các đảo như vậy). Do đó, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách trên biển của CHND Trung Hoa tại vùng biển xung quanh bãi Bãi Tư-Chính/Vanguard (ngoài khơi Việt Nam), bãi Luconia Shoals (ngoài khơi Malaysia), vùng biển ở Brunei EE EEZ và Natuna Besar (ngoài khơi Indonesia). Bất kỳ hành động nào của CHND Trung Hoa để quấy rối các quốc gia khác đánh cá hoặc phát triển dầu khí ở những vùng biển này - hoặc để thực hiện các hoạt động đó một cách đơn phương - là bất hợp pháp.
  • CHND Trung Hoa không có yêu sách lãnh thổ hoặc trên biển hợp pháp đối với (hoặc có nguồn gốc từ) bãi ngầm Tăng Mẫu/James Shoal, một cấu trúc hoàn toàn chìm dưới nước chỉ cách Malaysia 50 hải lý và cách bờ biển Trung Quốc 1.000 hải lý. Bãi chìm Tăng Mẫu/James Shoal thường được trích dẫn trong tuyên truyền của Trung Quốc là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc. Luật pháp quốc tế rất rõ ràng: Một tính năng dưới nước như bãi chìm Tăng Mẫu/James Shoal không thể được yêu cầu bởi bất kỳ quốc gia nào và không có khả năng tạo ra các khu vực trên biển. Bãi chìm Tăng mẫu/James Shoal (khoảng 20 mét dưới mặt nước biển) không phải và không bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc, Bắc Kinh cũng không thể khẳng định bất kỳ quyền trên biển nào hợp pháp từ đó.
Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế trên biển của mình. Mỹ đang sát cánh với các đồng minh và đối tác Đông Nam Á của chúng tôi để bảo vệ quyền chủ quyền của họ đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi theo các quyền và nghĩa vụ quốc tế của họ. Chúng tôi sát cánh với cộng đồng quốc tế để bảo vệ tự do biển cả và tôn trọng chủ quyền, và từ chối mọi sự thôi thúc thực thi kiểu “lý lẽ của kẻ mạnh”, ngay trên Biển Đông hoặc trong khu vực rộng lớn hơn.
--

U.S. Position on Maritime Claims in the South China Sea
PRESS STATEMENT
MICHAEL R. POMPEO, SECRETARY OF STATE
JULY 13, 2020

The United States champions a free and open Indo-Pacific. Today we are strengthening U.S. policy in a vital, contentious part of that region — the South China Sea. We are making clear: Beijing’s claims to offshore resources across most of the South China Sea are completely unlawful, as is its campaign of bullying to control them.

In the South China Sea, we seek to preserve peace and stability, uphold freedom of the seas in a manner consistent with international law, maintain the unimpeded flow of commerce, and oppose any attempt to use coercion or force to settle disputes. We share these deep and abiding interests with our many allies and partners who have long endorsed a rules-based international order.

These shared interests have come under unprecedented threat from the People’s Republic of China (PRC). Beijing uses intimidation to undermine the sovereign rights of Southeast Asian coastal states in the South China Sea, bully them out of offshore resources, assert unilateral dominion, and replace international law with “might makes right.” Beijing’s approach has been clear for years. In 2010, then-PRC Foreign Minister Yang Jiechi told his ASEAN counterparts that “China is a big country and other countries are small countries and that is just a fact.” The PRC’s predatory world view has no place in the 21st century.

The PRC has no legal grounds to unilaterally impose its will on the region. Beijing has offered no coherent legal basis for its “Nine-Dashed Line” claim in the South China Sea since formally announcing it in 2009. In a unanimous decision on July 12, 2016, an Arbitral Tribunal constituted under the 1982 Law of the Sea Convention – to which the PRC is a state party – rejected the PRC’s maritime claims as having no basis in international law. The Tribunal sided squarely with the Philippines, which brought the arbitration case, on almost all claims.
As the United States has previously stated, and as specifically provided in the Convention, the Arbitral Tribunal’s decision is final and legally binding on both parties. Today we are aligning the U.S. position on the PRC’s maritime claims in the SCS with the Tribunal’s decision. Specifically:
  • The PRC cannot lawfully assert a maritime claim – including any Exclusive Economic Zone (EEZ) claims derived from Scarborough Reef and the Spratly Islands – vis-a-vis the Philippines in areas that the Tribunal found to be in the Philippines’ EEZ or on its continental shelf. Beijing’s harassment of Philippine fisheries and offshore energy development within those areas is unlawful, as are any unilateral PRC actions to exploit those resources. In line with the Tribunal’s legally binding decision, the PRC has no lawful territorial or maritime claim to Mischief Reef or Second Thomas Shoal, both of which fall fully under the Philippines’ sovereign rights and jurisdiction, nor does Beijing have any territorial or maritime claims generated from these features.
  • As Beijing has failed to put forth a lawful, coherent maritime claim in the South China Sea, the United States rejects any PRC claim to waters beyond a 12-nautical mile territorial sea derived from islands it claims in the Spratly Islands (without prejudice to other states’ sovereignty claims over such islands). As such, the United States rejects any PRC maritime claim in the waters surrounding Vanguard Bank (off Vietnam), Luconia Shoals (off Malaysia), waters in Brunei’s EEZ, and Natuna Besar (off Indonesia). Any PRC action to harass other states’ fishing or hydrocarbon development in these waters – or to carry out such activities unilaterally – is unlawful.
  • The PRC has no lawful territorial or maritime claim to (or derived from) James Shoal, an entirely submerged feature only 50 nautical miles from Malaysia and some 1,000 nautical miles from China’s coast. James Shoal is often cited in PRC propaganda as the “southernmost territory of China.” International law is clear: An underwater feature like James Shoal cannot be claimed by any state and is incapable of generating maritime zones. James Shoal (roughly 20 meters below the surface) is not and never was PRC territory, nor can Beijing assert any lawful maritime rights from it.
The world will not allow Beijing to treat the South China Sea as its maritime empire. America stands with our Southeast Asian allies and partners in protecting their sovereign rights to offshore resources, consistent with their rights and obligations under international law. We stand with the international community in defense of freedom of the seas and respect for sovereignty and reject any push to impose “might makes right” in the South China Sea or the wider region.

--
Nguồn: (Link 1)

Saturday, 11 July 2020

Tiếng người




..
Ta về ngó chút vườn xưa..
Tìm hơi ấm cũ cơn mưa xa mù
Khuya nay trăng vắng đồi thu
Bên hiên bổng nhớ tiếng người mình thương

ĐN
11. Juli 2020

Thursday, 9 July 2020

cha con


Tranh của Nhất Linh vẽ



Sưu tầm giùm Ngộ.. :) chuyện hay!

CHA NHỚ MANG SỌT VỀ!

Truyện kể rằng:
Ngày xưa có một gia đình nghèo khó có bốn người: hai vợ chồng nọ, một đứa con nhỏ và một người cha đã quá già không làm được việc gì nữa.
Cuộc sống ngày càng cơ cực. Ông bố trở thành gánh nặng cho hai vợ chồng người con. Một hôm, anh con trai ra chợ mua một cái sọt tre rõ to. Đợi lúc trời tối, anh ta ôm bố đặt vào sọt.
Ông bố kinh ngạc:
- Con định làm gì vậy?
- Cha ơi! Cha biết đấy! Chúng con không thể nuôi nấng, chăm sóc cha được nữa. Con sẽ đưa cha tới một nơi linh thiêng. Ở đó người ta sẽ đối xử tốt với cha và cha sẽ yên lòng...
Thấy đứa con định bỏ mình vào rừng sâu, ông bố vô cùng giận dữ và quát lên:
- Đồ bất hiếu! Ai đã nuôi mày khôn lớn mà mày lại báo đáp tao như vậy?
Anh con trai bị mắng, hơi bẽ bàng một chút nhưng vẫn cõng phắt ông lão ngồi trong sọt và bước đi nhanh. Bỗng đứa con nhỏ chạy theo sau và nói thất thanh:
- Bố ơi! Bố đưa ông đi rồi bố nhớ mang sọt về nhé!
- Để làm gì? - Người bố ngạc nhiên.
Cậu bé liền nói:
- Để đợi lúc bố già, muốn đưa bố đi thì con có cái sọt này dùng cho tiện.
Nghe con mình nói vậy, người bố bủn rủn, thất thần, không bước đi nổi nữa. Rồi anh quay lưng, đưa cha mình trở lại nhà.

[Theo Nguyễn Đức Dân, Muôn màu lập luận, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2020]

Ngộ về!


Ru ta ngậm ngùi, Quang Dũng



Ngộ về trăng sáng mé đồi
Đường khuya hoa dại đâm chồi chào ai

ĐN

Johannes Strasse

Saigon xưa




Johannesstrasse

Ra khỏi nhà
Đang đi xuống lầu
Thói quen đi xe đạp quanh khu nhà

Niềm vui nho nhỏ
Khi hái được vài cái lá cây hiếm hoi

Đi về đường Johannes
Đi trên đại lộ đẹp nhất thành phố
Giữa hai hàng cây đại thụ..

Mùi thơm cây cỏ
Nơi đây trong tháng trước
đã nở những hoa hồng dại màu trắng..

Nhưng kìa
Tôi lại khám phá một hoa hồng trắng
đang khoe sắc đơn độc
Như muốn hiện ra để chào tôi
Một lữ khách đường khuya!

Xe bus vẫn còn chạy
Thấy chỉ duy nhất 1 người khách.

ĐN

Tieng Duc



5. Juli 2020

1/ er
Sehr geehrter Herr ĐN,

"Sehr geehrter Herr ĐN,", tại sao "er"?, vì Herr= masculin, nominativ, ohne Artikel, do đó viết là er!
Cách học thuộc lòng cũng tốt, nhưng phải rỏ văn phạm, thi mới nhớ tốt được!

Tiếng Đức cũng nên được đọc và phân tích văn phạm như khi đọc cổ ngữ Pali vậy.
Khi đọc Pali bắt buộc phải suy nghĩ phân tích văn phạm thì mới hiểu.
Tiếng Đức thì dễ dàng hơn, dễ hiểu hơn.
Nhưng muốn hiểu và viết tiếng Đức chính xác, thì cùng phải suy nghĩ, phân tích như Pali.
Không thể khác!

2/ steht für..
Vietnamesisch, schmackhaft, gut


Der Name des Restaurants Nón Lá steht nicht nur für den in den Reisfeldern getragenen Spitzhut, sondern auch für frische, leichte asiatische Küche. 

Der Name des Restaurants: Restaurant, sub, n, sing, bestimmter Artikel, genitiv! do đó phải viết des Restaurants!

Der Name steht für.. là 1 cách viết.

In lockerer Pose schaut der Dudelsackspieler vom Spalenbrunnen auf die Gartentischchen hinunter, an denen Gäste die vietnamesische Küche geniessen. 

ĐN








Sunday, 5 July 2020

Tan man dau thang 7




Ru ta ngam ngui, Quang Dung




Ngộ về làm ấm trang blog..

Ngoài các đề tài khác như xưa nay
Blog sẽ thêm phần luyện tiếng anh, đức
Phần tiếng Đức sẽ dùng các newsletter của
Prof. Prantl/SZ
Tiếng anh sẽ dùng tài liệu tiếng anh mà Ngộ đã cho
lúc xưa.

ĐN

trang blog buồn trời mùa hạ
dấu chân ai về lồng lộng trời xanh ..

50 cau danh ngon tieng viet


Top 50 câu danh ngôn hay về cuộc sống ý nghĩa nhất mọi thời đại


Danh ngôn cuộc sống luôn có một vị thế nào đó trong cuộc sống, và thường thì mỗi người sẽ có xu hướng sống tốt hơn khi họ đọc nhiều câu danh ngôn hay và ý nghĩa. 

Chính vì vậy Lời hay ý đẹp mong muốn chia sẻ và gửi đến bạn đọc 50 câu danh ngôn hay nhất về cuộc sống ý nghĩa bên dưới, hy vọng bạn đọc xem kỹ và cảm nhận ý nghĩa của từng câu nhé.

1. Sự chân thành là điều tốt đẹp nhất bạn có thể đem trao tặng một người. Sự thật, lòng tin cậy, tình bạn và tình yêu đều tùy thuộc vào điều đó cả. ( Elvis Presley )

2. Trong tâm hồn cao thượng tất cả đều cao thượng. ( Pascal )

3. Trong phúc đã chứa sẵn mầm họa. Trong họa luôn chứa sẵn mầm phúc. Phúc càng lớn, họa càng lớn và ngược lại họa càng lớn, phúc càng lớn. Trong cái được có cái mất. Trong cái mất có cái được. Đó là tính hai mặt của phúc họa, được mất.

4. Một số người tặng thời gian, một số người tặng tiền, một số tặng kỹ năng tay nghề và mối quan hệ, một số đã hiến máu… Và ai cũng có một thứ gì đó để trao tặng. ( Barbara Bush )

5. Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, hạnh phúc đích thực của con người chỉ có bấy nhiêu thôi. ( Epicure )

6. Hạnh phúc là biết mình thực sự cần cái gì và có được cái mình cần. Những cái bạn thực sự cần và bạn đang có có thể là những điều rất giản dị xung quanh bạn: một sớm mai thức dậy bạn thấy khỏe mạnh không đau yếu và ngắm một bông hoa nở bên cửa sổ, bạn ăn một bữa ăn ngon và đầm ấm với những người thân, bạn uống một tách trà nóng với một người bạn tri kỷ để cùng nhau hàn huyên, tâm sự…

7. Suy nghĩ giống như thuyền trưởng của một con tàu: nó điều khiển mọi lời nói, việc làm, điều khiển mọi hoạt động, hành vi và cách cư xử của bạn. Suy nghĩ tốt sẽ giúp bạn biết cái gì nên làm và cái gì không nên làm, cái gì nên học và cái gì không nên học, cái gì nên nói và cái gì không nên nói, cái gì nên biết và cái gì không nên biết…

8. Có trải qua đau khổ, cay đắng con người ta mới hiểu ra được nhiều điều, mới nhìn nhận ra được những sự thật mà nếu như ta sống một cuộc sống êm đềm và hạnh phúc ta không thể nhận ra.

9. “Tôi đã luôn tin chắc rằng ai cũng có thể tìm thấy những điều đẹp nhất ở những nơi ít ngờ tới nhất, chỉ cần thật sự để tâm. Và tôi đã đúng.” ( HHT )

10. Bớt đau khổ so với ngày hôm qua là hạnh phúc. Kém hạnh phúc so với ngày hôm qua là đau khổ. Hạnh phúc và đau khổ chỉ là những khái niệm mang ý nghĩ tương đối.

11. Ở trên đời này, hễ được cái này thì sẽ mất một cái khác, và hễ mất một cái này sẽ được một cái khác. Mỗi cái lợi luôn đi kèm với một cái hại tương ứng và ngược lại mỗi cái hại luôn luôn đi kèm với một cái lợi tương ứng. Đó là luật bù trừ hay là luật đánh đổi.

12. Hạnh phúc ở trong tâm ta. Nghĩ là hạnh phúc thì sẽ cảm thấy hạnh phúc, nghĩ là đau khổ thì sẽ cảm thấy đau khổ. Hạnh phúc là biết đủ, biết hài lòng với những gì mình có. Hay nói đúng hơn hạnh phúc là biết mình thực sự cần cái gì và có được cái mình cần.

13. Lòng yêu thương là điều mà chúng ta có thể mang theo khi chúng ta ra đi, và nó khiến cho giây phút cuối trở nên dễ dàng chịu đựng. ( Louisa May Alcott )

14. Thành công không luôn luôn phải là có nhiều tiền. Khi ta vượt lên chính mình hay khi ta đem lại hạnh phúc cho người khác đó cũng là thành công.

15. Những công trình vĩ đại đều khởi nguồn từ một ý nghĩ. Khi một ý nghĩ khi được nung nấu và được lên một kế hoạch hành động cụ thể, với thời gian tự nó sẽ tìm ra những phương cách để biến ý nghĩ đó trở thành hiện thực.

16. Thành bại, may rủi trong cuộc đời con người tuy do nhiều yếu tố quyết định, những suy cho cùng vẫn là do tính cách con người và do sự lựa chọn của cá nhân mà ra.

17. Để thành công cần có thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thành công trong cư xử, chúng ta sẽ có trong tay điều kiện nhân hòa. Điều quan trọng nhất của thành công trong cư xử là biết nghĩ đến người khác, và cao hơn là biết thương người như thể thương thân. Khi ta thương người chính là ta đang thương mình đó, người sẽ đền đáp lại cho ta cái mà ta cần.

18. Cư xử với con người bằng sự chân thành sẽ được đáp lại bằng sự chân thành.

19. Hãy khám phá những điều nhỏ nhoi đang làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Những khoảnh khắc ấy là những hạt vàng trên lối đi toàn sỏi đá… Để ta nhận ra rằng “Cuộc đời là một điều kỳ diệu”. ( Trái tim có điều kỳ diệu )

20. Tất cả kho tàng trên trái đất không thể nào so sánh nổi với hạnh phúc gia đình. ( Calderon )
21. Một người vĩ đại là một người đã không đánh mất trái tim trẻ thơ của mình. ( Mencius )

22. Nơi nào có tình thương yêu, thì nơi đó luôn có những điều kỳ diệu. ( Loilla Cather )

23. Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu. (V incenl Van Gohg )

24. Con cái được giáo dục sẵn nếu chính cha mẹ được giáo dục. ( Goethe )

25. Tình yêu không có thời hạn, chừng nào trái tim còn đập người ta còn yêu. ( Karamzin )

26. Hãy có lòng nhân ái, bởi vì bất kỳ ai bạn gặp đều đang chiến đấu gian khổ hơn bạn. ( Plato )

27. Phải yêu bạn vì hạnh phúc thương yêu không vì lợi lộc có thể khai thác được. ( La Bruyere )
28. Nguyên nhân chính của các lỗi lầm loài người mắc phải được tìm thấy trong những thành kiến được thu thập từ thời thơ ấu. ( Descartes )

29. Thắp nến lên đi, đừng ngồi than vãn trong bóng tối.

30. Tâm trí bạn giống như chiếc ô : chỉ hoạt động khi nó được mở.

31. Hãy để mọi người nhớ mãi nụ cười của bạn.

32. Mỗi cuốn sách là một bức tranh kì diệu về cuộc sống.

33. “Và tôi nhận ra rằng, trong cuộc sống luôn luôn có ( ít nhất ) một người dõi theo một người bằng cả trái tim, để rồi (có thể) người đó lại dõi theo người khác với tất cả tấm lòng của họ. Nhưng có hề gì, chỉ cần bạn được yêu thương ai đó và “yêu thương vô điều kiện”, cuộc
sống sẽ vô cùng ý nghĩa. Và với tôi, thế là đủ!” ( Trích từ một truyện ngắn trên báo HHT )


34. Ai yêu mãnh liệt thì ít lời.

35. Thành công và hạnh phúc nằm trong chính suy nghĩ và sự lựa chọn của bản thân.

36. Mỗi nghịch cảnh, mỗi thất bại và mỗi nỗi đau buồn đều chứa đựng một mầm mống lợi ích tương đương – Napoleon Hill

37. Mọi thứ trong cuộc đời đều có giá của nó. Được cái này thì phải mất cái kia, muốn nhận thì phải cho, muốn có thành công và hạnh phúc lâu bền thì phải trả giá bằng nỗ lực và cố gắng.

38. Tình yêu là khi chúng ta nhận ra chính mình ở trong một người khác, và tự hào vì điều đó!

39. Luôn luôn có niềm hy vọng cho người nào bình tâm suy nghĩ về cuộc sống. ( Katherine Logan )


40. Bao lâu bạn vẫn còn tự tin ở bạn, thì người khác vẫn còn tin bạn. ( Cynda Williams )

41. Đừng quá xem trọng điều gì. Hãy tiếp nhận mọi sự may rủi một cách nhẹ nhàng. ( Jepfecson )

42. Đứng vững và không nghĩ rằng mình sẽ ngã thì sẽ chẳng bao giờ ngã. ( H.Andersen )

43. Khi tất cả những cái khác đã mất đi thì tương lai vẫn còn. ( Bové )

44. Hạnh phúc không tùy thuộc vào bạn là ai, bạn làm gì mà tùy thuộc vào bạn nghĩ gì.

45. Cách tốt nhất để có một ý tưởng xuất sắc là có thật nhiều ý tưởng.

46. Đôi khi những điều nhỏ bé nhất lại mang đến những điều kỳ diệu nhất.

47. Dũng cảm là vượt qua nỗi sợ hãi chứ không phải không sợ hãi.

48. Dù người ta có nói với bạn điều gì đi nữa, hãy tin rằng cuộc sống là điều kỳ diệu và đẹp đẽ. ( Pautopxki )

49. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã.

50. Bạn không bao giờ bị đánh bại, cho đến khi bạn tự bỏ cuộc.

Bạn thấy đấy rõ ràng trên đây là những câu danh ngôn cuộc sống hay mà được đúc kết từ những người nổi tiếng, chính vì vậy ý nghĩa của nó không hề nhỏ và sẽ mang lại giá trị đến với nhiều người.
--
http://www.loihayydep.info/2017/03/top-50-cau-danh-ngon-hay-ve-cuoc-song-y-nghia-nhat-moi-thoi-dai.html

Deutsch lernen!



Deutsch Lernen

Ghi 1 lá thơ của Prantl và phân tích tiếng đức:
Phần chữ nghiêng là của ĐN

5. Juli 2020
Sehr geehrter Herr ĐN,

"Sehr geehrter Herr ĐN,", tại sao er?, vì Herr= masculin, nominativ, ohne Artikel, do đó viết là er!
Cách học thuộc lòng cũng tốt, nhưng phải rỏ văn phạm, thi mới nhớ tốt được!

Tiếng Đức cũng nên được đọc và phân tích văn phạm như khi đọc cổ ngữ Pali vậy.

Khi đọc Pali bắt buộc phải suy nghĩ phân tích văn phạm thì mới hiểu.
Tiếng Đức thì dễ dàng hơn, dễ hiểu hơn.
Nhưng muốn hiểu và viết tiếng Đức chính xác, thì cùng phải suy nghĩ, phân tích như Pali.
Không thể khác!

ĐN
--

Vietnamesisch, schmackhaft, gut


Der Name des Restaurants Nón Lá steht nicht nur für den in den Reisfeldern getragenen Spitzhut, sondern auch für frische, leichte asiatische Küche. 

Der Name des Restaurants: Restaurant, sub, n, sing, bestimmter Artikel, genitiv! do đó phải viết des Restaurants!

Der Name steht für..

In lockerer Pose schaut der Dudelsackspieler vom Spalenbrunnen auf die Gartentischchen hinunter, an denen Gäste die vietnamesische Küche geniessen. 




Ket noi/ chup trang/ chup anh ban dem

Chụp trăng

Chụp ban đêm



Sau khi thức dậy sẽ phân tích và có ý kiến bổ xung và bình luận đoạn văn này:

1/ Trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống, thành công phần lớn nhờ vào sự kết nối và sự giúp đỡ của những người bạn, người anh, người thầy mà ta tình cờ gặp trên hành trình cuộc sống. Nhưng nếu ta không dừng lại, bước đến và chủ động tiếp cận họ thì người dưng nước lã ấy làm sao trở thành bạn ta, anh chị em ta, hay thầy ta? Do đó, kỹ năng tiếp cận và mở đầu câu chuyện với người lạ là một kỹ năng hết sức cần thiết mà ta cần rèn luyện để có thể bắt đầu một quan hệ thân thiết từ bất kỳ một người lạ nào mà ta gặp trong hành trình cuộc sống. Đây là ba điều bạn tham khảo để giúp mở đầu những quan hệ ý nghĩa trong đời nhé.

Kết nối/ Một cây làm chẳng lên non, Ba cây chụm lại nên thành núi cao!
dừng lại, bước đến và chủ động tiếp cận họ<< 3 thái độ cần thiết!


2/ Khởi đầu bằng sự quan tâm: ai trong chúng ta cũng muốn được quan tâm. Nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc ta được gì, họ nghĩ sao về ta thì câu chuyện một chiều đó chẳng mang lại ý nghĩa gì cho người đối diện, thậm chí có thể làm cho người đối diện có thành kiến với mình. Nếu bạn chỉ cần thay đổi góc nhìn và tập trung vào người đối diện, họ là ai, họ cần gì, ta có thể giúp gì cho họ. Cách tiếp cận này làm cho ta trở nên quan tâm hơn, hào phóng hơn và do đó tạo ra một môi trường thân thiện cho sự phát triển của một mối quan hệ mới đầy ý nghĩa.

Quan tâm


3/ Đặt câu hỏi sâu sắc: những câu hỏi hời hợt cho qua chỉ có thể tạo ra kết nối nông cạn, chẳng đến đâu. Khi ta tập trung vào người đối diện, hãy hỏi những câu về họ để tìm hiểu những gì mà mình chưa biết. Có như vậy, quan hệ giữa ta và người đối diện sẽ bước sang một level mới nhờ vào sự hiểu biết và thông cảm cho nhau. Đôi khi, nếu người đối diện không quen chia sẻ, bạn có thể tạo tâm lý chia sẻ bằng cách kể câu chuyện của mình. Điều này sẽ giúp người đối diện cảm thấy thoải mái hơn, gần gũi hơn và dễ dàng chia sẻ hơn với một người lạ như ta.

Đặt câu hỏi sâu sắc: những câu hỏi hời hợt cho qua chỉ có thể tạo ra kết nối nông cạn, chẳng đến đâu. Khi ta tập trung vào người đối diện, hãy hỏi những câu về họ để tìm hiểu những gì mà mình chưa biết.<< 
tìm hiểu những gì mà mình chưa biết.



4/ Lắng nghe: khi tập trung vào bản thân, ta chỉ lo suy nghĩ cần nói gì tiếp theo, nói sao để tạo ấn tượng và quên mất không lắng nghe những gì người đối diện đang chia sẻ. Khi bạn không lắng nghe, bạn vừa mất đi kết nối với người đối diện. Chẳng ai trên đời cần biết và muốn biết những gì bạn sắp nói. Họ chỉ cần biết bạn có quan tâm và lắng nghe họ nói hay không. Khi lắng nghe, bạn có cơ hội hiểu người đối diện hơn, đặt được những câu hỏi sâu sắc hơn về họ, và do đó xây dựng được kết nối ý nghĩa hơn./NPV

Khi bạn không lắng nghe, bạn vừa mất đi kết nối với người đối diện. << chính xác!


Tóm:
i/ Kết nối/ Một cây làm chẳng lên non, Ba cây chụm lại nên thành núi cao!

dừng lại, bước đến và chủ động tiếp cận họ<< 3 thái độ cần thiết!
ii/ Quan tâm
iii/ Đặt câu hỏi sâu sắc: những câu hỏi hời hợt cho qua chỉ có thể tạo ra kết nối nông cạn, chẳng đến đâu. Khi ta tập trung vào người đối diện, hãy hỏi những câu về họ để tìm hiểu những gì mà mình chưa biết.<< 
tìm hiểu những gì mà mình chưa biết.

Kết nối/Quan tâm/Lắng nghe là 3 thái độ nên biết!/ ĐN

Friday, 3 July 2020

Vo Thuong 1

Ngọc Lan hát Cát Bụi



Quang Dũng hát Cát bụi


Trăng về

Đêm trăng mọc sớm
Nhìn thấy trăng khi dắt xe vô nhà
Khuya ra balkon tìm trăng
Nhưng trăng đã ra khỏi tầm nhìn

Trăng về tháng bảy sớm sao!
Khuya nay thứ sáu lao xao cuối tuần

ĐN
Tặng Ngộ

TCS đã ra đi
Ngọc-Lan đã ra đi
Ta còn Quang Dũng..
Còn những con người đang sống!

Monday, 29 June 2020

Tan man/ Chung khoan voi Quang Dang

Quang Dang/ chung khoan

Tản mạn

Chí đã mất từ lâu,
Hôm nay ngồi bóc các củ tỏi, tôi lài nhớ đến Chí.
Lý do là tuy thích dùng đặc phẩm có mùi vị thơm
và các yếu tố ích lợi của tỏi cho sức khỏe,
Thế mà, nhiều khi các củ tỏi bị bỏ quên không dùng đến khô cằn!
Lí do: mất công bóc vỏ!

Chí có lần hỏi tôi, làm sao bóc tỏi cho nhanh?
Chí học xong ngành cơ khí hàng không, nhưng anh lại có thời gian
học luôn cả nghề nấu bếp và hành nghề này cho các tiệm ăn trong thành phố!

Sau này, nhớ câu hỏi của Chí, tôi đã tìm mua được ở chợ phiên 2 loại dụng cụ;
loại 1 có thể giúp bóc tỏi nhanh và loại 2 để bóp nghiền tỏi thành những hạt nhỏ..

Ngồi coi tivi, đem vài củ tỏi ra bóc vỏ..
Để sẵn đó, khi cầu dùng, có ngay!

ĐN

Sunday, 28 June 2020

Phuong Hong nho Duy-Xuyen

Phuong hong, Bang Kieu


Tặng Ngộ thân
Các bạn bè Duy-Xuyên
mà tôi đã quen biết..

ĐN

Lo Lem NN hoi:


Hà-Nội mùa này


Lọ lem NN hỏi:

1/ Học giả VN nào anh thích, ấn tượng ?

DN:
Nguyen Hien Le, Vuong Hong Sen, Hoai Thanh&Hoai chan!
Nhưng Hoang xuan Han, Le viet Trụ, Duong quang Hàm là 3 cái tên
sẽ khien minh tim hieu them trong tuong lai!

2/ Thi nhân nào anh thích:

- Nguyên Sa, Nguyen Du, Te Hanh, Phan Khôi, Than Thi Ngoc Que.

3/ Nha van nao anh chu y?

- Nguyen Thi Hoàng, Doãn quoc Sỹ,  Nhật Tiến, Lê Tất Điều

4/ Anh thích tiểu luận của ai:

- Nguyễn Tường Bách

5/ Anh quan tâm đến phật pháp, anh thích nghe ai giảng?

- Sư Viên Minh, Sư Bửu Chánh. Mình thích một số bài của HT Thích Nhất Hạnh, HT Thanh Từ.

Còn Lọ Lem NN thì sao?