Sunday, 21 June 2015

Đối trị tâm Sân tặng Ngộ


Ngộ thương,

Bài này hay, tặng em
ĐN


Đối trị tâm Sân

Chúng ta phải làm gì khi cơn giận đang phừng phừng nổi lên?
Giác Ðẳng

*

Đối với kinh nghiệm của chúng tôi, đó là chúng ta nên tự hiểu nhược điểm của chính mình:

- Người dễ sân thường là người nặng về lý lẽ sách vở. Quí vị để ý là Chư Tăng, vị nào pháp Học nhiều thì thường hay dễ sân giận, tại vì chúng ta nói điều gì chúng ta cứ nghĩ rằng điều đó 100% là đúng. Mình phải coi chừng nếu mình là người học Phật Pháp nhiều, mình là người có kiến thức nhiều thường hay dễ nổi giận.

- Khi chúng ta cầu toàn thì dễ nổi giận. Cầu toàn tức là cái gì cũng phải hoàn hảo, trưng dọn cũng phải hoàn hảo, tổ chức lễ lộc cũng phải hoàn hảo. Chúng ta càng cầu toàn thì chúng ta càng dễ nổi giận.

- Và chúng tôi cũng để ý một điều, đó là đầu óc phê phán cũng làm cho chúng ta dễ nổi giận. Phê phán là con người của chúng ta thường hay có ý kiến. Chuyện không phải của mình, mà mình cũng có ý kiến, ý kiến người này đúng người kia sai phải quấy; và chúng ta càng có ý kiến nhiều thì chúng ta càng dễ giận.

Thành ra, đối với chúng tôi thì chúng tôi nghĩ rằng điều thứ nhất là chúng ta nên hiểu nhược điểm của mình. Nếu mình là người thường sống với lý lẽ, mình là người sống với sách vở, thì mình hay rất dễ nổi giận. Quí vị để ý thấy rằng quí vị pháp sư, những vị giảng sư thường thường là tâm sân đôi khi nặng lắm là bởi vì cái gì cũng đòi hỏi lý lẽ.

Thứ hai nữa đối với chúng tôi, thì chúng tôi thường học theo lời Đức Phật dạy là mình quan sát những lúc mình giận hay lúc người khác giận. Khi mình giận thì thường thường mình hay nói lỡ lời, mình giận là mình hay nói những chuyện mà hối hận về sau này. Ví dụ mình giận một chuyện rồi mình kết án luôn cả người đó. Thí dụ người đó làm một lỗi gì đó thì chỉ nên giận một lỗi đó nhưng mình kết án luôn cả người đó.

Do vậy, lúc có chuyện gì đang giận, trừ trường hợp lỗi gì ghê gớm lắm thì thôi, còn nếu mà được thì có cách này áp dụng kinh nghiệm chúng tôi thấy có kết quả. Ví dụ như anh em huynh đệ sống chung nhau mà làm chuyện gì chúng tôi nổi giận lên thì chúng tôi nói thẳng với vị đó rằng "tôi đang rất giận". Ví dụ có vị sư A ở chung với tôi thì tôi nói "tôi đang rất giận, sư để tôi yên một chút, tôi sẽ nói chuyện với sư vào ngày mai." Tại vì khi mình nói với người khác là mình đang rất giận mà mình không nói gì hết thì ít nhất là nó cũng như một lời tự thú là mình đang rất giận. Có thể đối với nhiều người xem chuyện đó là chuyện mất mặt, mình nói người khác mình mất bình tỉnh là mình mất mặt. Nhưng khi mình nói người khác là mình đang mất bình tỉnh mình đang giận thì cách đó cũng là cách để giải toả sự giận của mình. Do vậy với những người thân của chúng tôi khi họ làm gì mình giận, thì chúng tôi cho người đó biết ngay là tôi đang giận người đó; và tôi không muốn nói về chuyện đó nữa, tôi chỉ muốn giữ im lặng cho đến khi tôi bình tỉnh trở lại. Thì mình cứ nói thật chuyện đó. Vì theo kinh nghiệm trong cuộc đời mình trải qua nhất là mình càng đi càng sống nhiều, đó là những lúc mình giận mình hay nói quá lời, nói những lời quá đáng, mà nói như vậy sau đó thật sự mình chỉ hối hận thôi.

Chuyện của mình đã kinh nghiệm như vậy, mình muốn người khác cũng kinh nghiệm như vậy. Do vậy ở trong những lúc mình giận dữ thì chúng tôi thường áp dụng hai cách là: một là mình nói mình đang rất giận và mình không muốn nói chuyện này nữa, và cách thứ hai chúng tôi học được của ngài Hòa thượng Hộ Giác. Ngài Hộ Giác được xem như là một người điềm đạm ở trong lối cư xử, chúng tôi thấy ngài hay im lặng. Khi nào ngài im lặng không nói gì là biết ngài giận. Sau này chúng tôi thấy cách đó cũng hay, thay vì mình cho nó nổ tung ra thì giữ im lặng, nhưng thật sự im lặng cũng khó lắm.

Có trường hợp khác, mình biết được chỗ nào mình nên làm sợi dây để níu lấy, ở trong những lúc mình gặp khó khăn. Trong đời của chúng tôi không hiểu tại sao khi chúng tôi bắt đầu lớn lên rồi thì có một chuyện chúng tôi rất sợ. Đó là chúng tôi sợ có những lời nói xúc xiểm phạm thượng đến cha mẹ. Thân phụ của chúng tôi là một người rất hiền rất thương con. Khi chúng tôi lớn lên thì thật sự phải nói rằng nếu một ngày nào đó chúng tôi nghĩ là mình có lời nói phạm thượng đến mẹ đến cha thì có lẽ chúng tôi buồn lắm; và chúng tôi vẫn thường tâm niệm trong kiếp sống luân hồi chúng tôi có làm gì thì làm nhưng đừng bao giờ phạm đến cha phạm đến mẹ, chúng tôi sợ chuyện đó lắm. Chúng tôi lấy ví dụ, thân mẫu chúng tôi đã mất rồi sanh lại làm một chúng sanh nào đó, một người nào đó, khi chúng ta nổi cơn giận lên mà chúng ta đâu biết ai là thân mẫu của mình. Thành ra khi chúng ta nổi cơn giận lên thì có thể chúng ta có những lời nói quá.

Cái kinh nghiệm của đời sống hàng ngày là mình để ý, đó là thật ra, đa số chúng ta đối xử với nhau rất tốt. Chúng ta đối xử với nhau tốt nhiều hơn xấu. Chúng tôi là một vị trụ trì chùa, chẳng hạn có những Phật tử họ làm chuyện gì đó chúng tôi giận, nhưng chúng tôi vẫn còn nhớ một điều rằng chỉ có hôm nay trong giờ phút này, họ nói câu làm mình giận; nhưng 5 năm, 3 năm, 10 năm qua thì không biết bao nhiêu tâm thành cũng như công quả họ đã đem để vào trong chùa. Chúng ta không thể vì chuyện mình giận mà mình lại xóa đi tất cả những công đức, xóa đi tất cả tấm lòng của họ trước kia được. Do vậy, mỗi lần những người Phật tử đi chùa mà họ làm chuyện gì, thì chúng tôi nhớ một điều rằng ngày hôm nay họ có thể làm cho mình rất vui, và mai kia mốt nọ có thể họ làm gì đó mình rất là giận thì mình nên tha thứ cho chuyện đó. Tại vì lý do là họ đã làm rất nhiều chuyện tốt đối với mình. Thật ra, ở trong cuộc đời này có những chuyện rất kỳ lạ, cuộc đời giống như một cuộn phim, chuyện tụ rồi tán, rồi thương rồi ghét, đủ thứ hết. Bạn và thù là một chuyện giống như trời nắng trời mưa, trời sáng và tối. Người đó họ thương mình rồi họ cũng ghét mình được, người đó họ ghét mình rồi họ cũng thương mình được, giai đoạn này tới giai đoạn kia. Quí vị xem cuốn phim, nó thay đổi từ nơi này sang nơi khác, thành ra chúng tôi không nghĩ rằng chúng ta muốn nuôi một tâm sân hận hiềm hận về bất cứ ai. Tại vì sao vậy? Tại vì lúc người ta tốt với mình mà mình không cảm kích, mà lúc họ làm mình phiền thì mình lại xoá hết tất cả những điều tốt, và mình lại nổi giận với họ. Nên chi riêng đối với chúng tôi thì chúng tôi rất sợ là một người nào đó họ có ân sâu tình trọng với mình, rồi mình lại vì một cơn nóng giận mà đốt hết những chuyện đó, chúng tôi rất sợ.

Chúng tôi cũng có khi nghiệm thấy cuộc sống là mình sống thì mình phải có chuẩn bị, và mình đặt đời sống của mình vào chỗ lạc quan. Lấy ví dụ là mình sống mà mình cứ phiền hà trách móc người khác đối với mình hoài, thì đời sống của mình giống như sống trong địa ngục. Cứ tưởng tượng buổi sáng thức dậy và tối đi ngủ, lúc nào cũng nghĩ đến chuyện người này sống phá mình và người kia thù hận mình thì phiền não lắm. Thà chúng tôi dành thì giờ cho những người tử tế với chúng tôi hơn là dành thì giờ cho những người kia. Đời sống chúng ta không có công bằng, người tốt với mình thì mình không nghĩ tới họ, mà người họ xấu với mình thì cứ nghĩ tới họ hoài. Người ta nói chiếc giày mà nó vừa chân mình rồi thì mình không nghĩ tới nó nữa nhưng chiếc giày mà nó chật hay lỏng quá thì mình cứ nghĩ tới nó hoài. Thật ra, trong ngày của chúng ta có bao nhiêu thì giờ mình làm cho những người thật sự tốt với mình. Chúng tôi nói thật sự đời sống bản thân của chúng tôi là một vị tu sĩ, tất cả cái ăn cái ở, tất cả cái gì chúng tôi có, đều là do tấm lòng của đàn-na tín thí. Nếu chúng tôi sống mà chúng tôi tin tưởng vào tấm lòng của con người, thì đời sống tu sĩ chúng tôi tin tưởng như vậy. Và chúng tôi nghĩ là mình nên cảm kích những điều đó, hơn là bận tâm đến những chuyện buồn phiền, mà chuyện buồn phiền thì chỉ một ngày một buổi, một thoáng nào đó. Cái nào mình sống được an lành thì mình sống, chứ mình giận người quá thì phiền hà chính mình. Nhưng phải nhìn nhận một điều rằng như Sư Trưởng Giác Chánh nói, cái gì mình có chuẩn bị thì nó dễ lắm, nhưng cái gì bất ngờ thì thật sự khó dằn lắm.

Đôi khi chúng tôi có chuyện gì giận, thì những lúc đó, cách mà chúng tôi làm là chúng tôi im lặng hay bỏ đi. Ở bên Mỹ thì thật sự dễ hơn ở điểm là có xe, thí dụ mình giận chuyện gì thì mình lái xe ra bờ biển, hay lái xe lên rừng hay lái xe đến nơi nào đó. Thế giới của chúng ta sống ngày hôm nay có điều rất may mắn là có nhiều cảnh giới, chúng ta có điện thoại, có Internet, có sinh hoạt, và những lúc đó làm tâm tư của chúng ta rất là an bình tại vì chúng ta có nhiều cảnh giới khác nhau. Chúng tôi rất hiểu là tại sao ở trong thế giới chật hẹp con người chúng ta dễ giận dữ, tại vì chúng ta không có được nhiều cảnh giới.

Do vậy đối với bản thân của chúng tôi thấy là đời sống mình nên đa dạng một chút, đừng dồn hết sức vào trong cái rổ. Chúng ta làm việc tay chân cũng như làm việc đầu óc, làm việc ở đây nhưng cũng làm việc ở xa, làm việc này cũng có làm việc khác, việc này bế tắt không ổn thì chúng ta tạm ngưng để qua một bên. Đầu óc của chúng ta thường là không phải vấn đề bế tắt nằm ở ngoại giới, mà bế tắt nằm ở trong đầu mình. Mình để trong đầu mình bế tắt, tự nhiên mình làm khổ lấy mình. Do đó, nên có cách chuẩn bị. Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên tu tập Từ tâm. Từ tâm là lòng tử tế hay là thiện chí mong mỏi cho mọi người được an lạc thì điều đó có lợi ích. Chúng tôi thì luôn luôn suy nghĩ một điều là hễ nếu đời sống bình thường mà mình có tâm Từ, thì những lúc mình giận, cho dù mình có lỡ lời, có nổi giận thì trong vòng 5 phút, 3 phút, một ngày, mình không giữ lâu. Tại vì cái chuyện mà nuôi cơn giận trong người là một chuyện rất độc hại; và nếu mình có tu tập tâm Từ thì tâm Sân không có đất đứng. Tâm Sân nó chỉ có thể tồn tại lâu dài trong tâm của người nào có nhiều phiền não mà yếu kém về tâm Từ. Nếu đời sống hàng ngày mình có tâm Từ thì mình không nghĩ đến chuyện phiền não.

Chúng tôi vẫn thường nghĩ một điều rằng, ví dụ như là mình lên máy bay có một vài giây phút đầu tiên trong lúc chờ đợi máy bay cất cánh, thì mình nhắm mắt lại, mong tất cả những người chung quanh được an lạc, mong cho mọi người cùng đi trong chuyến bay này được an lạc, thì điều mình hiểu được an lạc của người là an lạc của mình. Buổi sáng mình mở roomra, thấy vài ba chục người vào trong room nghe pháp thì mình nhắm mắt lại một chút, và mong cho tất cả mọi người hôm nay được an lạc. Tại vì những cái đó bình thường đời sống hàng ngày nên mình không để ý, nhưng lâu ngày có lợi cho mình rất nhiều. Có lợi cho mình là đầu tiên, mà mình nghĩ đến phản ứng của mình cho mọi người là mong cho người ta được an lạc thì mình sẽ giảm thiểu sân hận. Sân hận cũng là một thói quen, cũng là một thường cận y duyên, không phải là lúc nào nó cũng giống nhau hết. Do đó, nếu chúng ta có thói quen ít sân ít giận thì đỡ khổ hơn.

Vì vậy, chúng tôi xin thưa với quí vị như vầy là mình nên hiểu nhược điểm của mình: người càng nặng về lý luận, càng nặng về phê bình người khác, càng nặng về sách vở thì càng dễ giận. Mình phải tự hiểu mình. Người càng cầu toàn, cái gì cũng đòi hỏi phải hoàn hảo hết, thì dễ giận. Phải hiểu là cuộc sống mình phải có cảm kích đối với cuộc đời thì mình cũng sẽ bớt giận đi, và đồng thời nếu mình có tu tập tâm Từ nhiều cũng sẽ bớt giận. Đó là kinh nghiệm rất là khó. Cuộc tu nó là cái gì rất cá nhân.

Đức Phật Ngài đã nói một câu kệ rất hay:

Ai chặn được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương hờ.


 
--
http://budsas.blogspot.com.au/2015/06/oi-tri-tam-san.html

Friday, 19 June 2015

Mit 20.6.2015

Bài hát ông Địa

Mit

Em anh xí xọn nhất
Đặt tên nick vui vui giỡn giỡn
Yêu nhất vẫn là Mit!

Mit khôi nguyên ngày cũ
Là người anh yêu bao hiền diệu
Ôi những ngày quấn quít!

Xa xăm

ĐỗNguyễn

--
Suu tam

Thờ Thần Tài, Ông Địa


Bàn thờ Thần tài chỉ được lập ở những nơi góc nhà, xó nhà chứ không phải nơi sạch đẹp, trang trọng như bàn thờ Tổ Tiên hay bàn thờ Thổ Công.

Bản chất Trường Khí phòng thờ (hay bàn thờ) thuộc tính Âm, không ưa sự phô trương, mang tính đối nội (ngay cả trong ngày giỗ hay Tết thì thờ cúng cũng là việc riêng của gia đình đó, người ngoài đến muốn thắp nén nhang phải xin phép gia chủ).

Về Ngũ Hành thì bàn thờ thuộc hành Hỏa và Mộc là 2 hành hướng lên cao và cần sự chăm sóc mỗi ngày. 

Trừ bàn thờ Ông Địa Thần Tài là tín ngưỡng dân gian mọi nhà giống nhau, đặt gần cửa để nghinh tiếp tài lộc, còn lại bàn thờ gia tiên và tôn giáo riêng của mỗi gia đình (thờ Phật, thờ Chúa…) nên mang tính hướng nội, không cần phải đặt ngay trong phòng khách.
 

Ngoài bàn thờ gia tiên, ở Nam bộ, người ta còn có trang thờ, bàn thờ ông Táo, thờ ông Địa, ông Thần Tài. Trang thờ được bố trí ở trên cao, nơi gian giữa. Trên trang thờ có đôi chân đèn nhỏ, lư hương, bình bông, mâm dĩa trái cây, chung rượu, tách nước.

Bàn thờ ông Táo được đặt ở sau bếp. Đây cũng chính là vị “nhất gia chi chủ”, có nhiệm vụ coi sóc việc gia cư, định họa phước, trừ ma diệt quỷ.

DỊCH GIẢ

DỊCH GIẢ Kinh Điển Tiếng Việt 

từ tạng Pali và Hán tạng.
* hình ảnh, thông tin về các vị nầy, hoặc ý kiến đóng góp, đề nghị, v.v.;

- HT Minh Châu (1918-2012), Kinh tạng (Pali)
- HT Tịnh Sự (1913-1984), Thắng pháp tạng (Pali)
- HT Thích Đổng Minh (1927-2005), Tứ Phần Luật (Hán tạng)
- HT Thích Phước Sơn (?), Luật Ma-ha-tăng-kỳ (Hán tạng)
- HT Thích Thiện Siêu (1921-2001), Bộ A-hàm (Hán tạng)
- HT Thích Thanh Từ (1924), Bộ A-hàm (Hán tạng)
- TT Thích Đức Thắng (?), Bộ A-hàm (Hán tạng)
- TT Thích Tuệ Sỹ (1945), Bộ A-hàm (Hán tạng)
- TT Indacanda (1958), Luật tạng (Pali), Kinh tạng (Pali)
- Ni Sư Thích Nữ Trí Hải (1938-2003), Thanh Tịnh Đạo (Pali)
- Gs Trần Phương Lan (1941-2011), Chuyện Bổn Sanh (Pali)


--

Kinh Dịch 2

Thành phần hợp thành của quẻ



Vô Cực sinh Thái Cực
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi
Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng
Tứ Tượng sinh Bát Quái
Bát Quái sinh vô lượng

Thursday, 18 June 2015

Bát quái

Ba ngón tay



Kinh Dịch
Âm dương
Tứ tượng
Bát quái

Có nhiều thuyết về sự hình thành của Hậu thiên bát quái:
  • Thuyết cho rằng Phục Hi khi lập thành các quẻ thì cũng vẽ ra Tiên thiên Bát quái
  • Thuyết cho rằng Đại Vũ trị thủy mới lấy được Hà đồ, vẽ ra Tiên thiên bát quái
Hậu thiên bát quái thì được cho là do Văn vương nhà Chu vẽ ra khi ở trong ngục Dữu Lý. Lý do tại sao Văn vương vẽ Hậu thiên bát quái theo trật tự không có tính đối xứng vẫn còn là một đề tài để cho các học giả nghiên cứu.



Tiên thiên Bát quái

Là hình Bát quái được sắp xếp theo trật tự có tính đối xứng rất rõ. Đối xứng với một hào Âm (vạch đứt) sẽ là một hào Dương (vạch liền). Quẻ Càn ở trên cùng gồm 3 hào dương (3 vạch liền) thì đối xứng dưới cùng là quẻ Khôn gồm 3 hào âm (3 vạch đứt). Quẻ Khảm gồm 1 hào dương nằm giữa 2 hào âm thì đối xứng là quẻ Ly gồm 1 hào âm nằm giữa hai hào dương.
Sự vận động của Tiên thiên bát quái về mặt hình học là khá rõ ràng: ngược chiều kim đồng hồ, cứ thay thế một hào âm bằng một hào dương (hoặc một hào dương bằng một hào âm) từ trên xuống, sẽ cho quẻ tiếp theo phía bên trái.




Hậu thiên bát quái

Hậu thiên bát quái đặt các quẻ theo trình tự thuận chiều kim đồng hồ là: Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài, với quẻ Càn nằm ở góc tây bắc, vì phương vị người xưa nghịch với ngày nay - Trên Nam, Dưới Bắc, Phải Tây, Trái Đông. Điều này dựa trên một mệnh đề của kinh dịch: "Sự quý tiên đồ, cơ yếu nghịch đổ", nghĩa là điều đáng quý trong dự đoán là nhìn ngược.


Trong danh sách sau, quái và quẻ được biểu diễn bằng cách sử dụng các quy ước thông thường trong soạn thảo văn bản theo chiều ngang từ trái qua phải, với ký hiệu '|' cho Dương và ':' cho Âm. Lưu ý rằng, biểu diễn trong thực tế của quái và quẻ là các đường theo chiều đứng từ thấp lên cao (có nghĩa là để hình dung ra quái hay quẻ trong thực tế, ta cần phải quay đoạn văn bản biểu diễn chúng ngược chiều kim đồng hồ một góc 90°).
Có tám quái hay bát quái (八卦 bāguà) tạo thành do tổ hợp chập ba của Âm và/hoặc Dương:
Số Quái Tên Bản chất tự nhiên Ngũ hành Độ số theo Hà đồ, Lạc thư Hướng theo Tiên Thiên/Hậu Thiên Bát Quái
1 ||| (☰) Càn (乾 qián) Trời (天) dương kim 9 nam/tây bắc
2 ||: (☱) Đoài (兌 duì) Đầm (hồ) (澤) âm kim 4 đông nam/tây
3 |:| (☲) Ly (離 ) Hỏa (lửa) (火) âm hỏa 7 đông/nam
4 |:: (☳) Chấn (震 zhèn) Sấm (雷) dương mộc 2 đông bắc/đông
5 :|| (☴) Tốn (巽 xùn) Gió (風) âm mộc 6 tây nam/đông nam
6 :|: (☵) Khảm (坎 kǎn) Nước (水) dương thủy 1 tây/bắc
7 ::| (☶) Cấn (艮 gèn) Núi (山) dương thổ 8 tây bắc/đông bắc
8 ::: (☷) Khôn (坤 kūn) Đất (地) âm thổ 3 bắc/tây nam
Ba hào dưới của quẻ, được gọi là nội quái, được coi như xu hướng thay đổi bên trong. Ba hào trên của quẻ, được gọi là ngoại quái, được coi như xu hướng thay đổi bên ngoài (bề mặt). Sự thay đổi chung của quẻ là liên kết động của những thay đổi bên trong và bên ngoài. Vì vậy, quẻ số 13 (|:||||) Thiên Hỏa đồng nhân, bao gồm nội quái |:| (Ly hay Hỏa), liên kết với ngoại quái ||| (Càn/Trời).

--
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_D%E1%BB%8Bch

Hoa tím ngay 12

Hoa tím ngày 12

Hoa đẹp

Hoa màu tím đẹp quá
Nhớ ngày 12 mua chưng kỉ niệm
Dù em chưa về ngắm!

ĐỗNguyễn

Wednesday, 17 June 2015

Kinh Dich I




Kinh dịch

Người ta thời nhà Chu
Mười thế kỉ trước công nguyên xưa
Lúc đầu là sách bói

Nhiều thế kỉ vế sau
Người Tàu viết thêm vào Kinh dịch
Nhiều đề tài khác nhau

Nội dung thì có hai
Dịch Kinh và dịch truyện rõ ràng
Dịch Kinh viết sáu bốn quẻ

Dịch truyện là chú giải
Sáu mươi bốn quẻ Dịch đầy đủ
Sơ lược chỉ như vậy

ĐỗNguyễn

Tản mạn




Kinh Dịch

Dưới đất hay máy tính
Ở đâu thân tâm đều nơi ấy
Âm dương đều tư tại


Chuyện Riêng

Nghe xôn xao cải lộn
Lời qua tiếng lại trên máy tính
Nút tắt càng thương Ngộ


Ngư ông hưởng lợi

Mấy tên đầu hói tóc
Lười biếng mà cái miệng thèo lẻo
Lợi dụng tâm từ bi!


ĐỗNguyễn






Monday, 15 June 2015

Trời sáng
Hôm nay có gì vui?

Trò chuyện với Cap
Về 3 loại người đáng tránh:
Một là loại Sư cục đoan
Hai là loại bọn già dốt mà ngoan cố
Ba là mấy đứa a-dua xách dép cho mấy ông Sư hổ mang!
( 3 hạng người này có lẽ có trong tăng chi 3 pháp?!)

Hôm nay tìm được một kho sách nói
Và hôm qua được cả 100 cuốn sách hay dạng pdf

Vào room nghe họ thảo luận
Mình mới thấy mình đã tìm được con đường..
Do do, không thấy bị lôi cuốn trong những tranh cãi của bọn
TT hay TT
Atta hi attano natho!

Thôi,
anh đi ngủ đây
Còn em,
Dỡ ẹc
..
Ngày 12 lần này chẳng thấy đâu hết!

ĐỗNguyễn

Sunday, 14 June 2015

Chủ nhật 14.06.2015



Hôm nay em ghé qua room
Thoáng qua một chút anh mừng ghê đi
Ngủ xong một giấc mê ly
Chừ anh đi chợ ruốc chi Ngộ nè

Làm thơ chút trước khi đi
Bổng nhìn Chủ nhật mới hay cuối tuần
Bây giờ có chút ít giờ
Dọn thu một ít giấy tờ vất đi!

Giờ này room anh đông hơn
Room tên tu sĩ tà ma hói đầu
Mới hay thiên hạ không ngu
Trước sau cũng biết con người xảo gian!

ĐỗNguyễn

Lọ mục Shanghai



Lọ mục Shanghai

Hôm nay thấy bình mực
Mở ra thấy khô ráo
Bình mực mua năm 2007
8 năm trôi qua ư!

ĐỗNguyễn

VDP




Chép lại của anh Bình AnSon


ABHIDHAMMATTHA SANGHAHA - THẮNG PHÁP TẬP YẾU
(Manual of Abhidhamma)

Xin chia sẻ vài dòng thông tin, đã từng đăng trước đây trong diễn đàn FB “Đàm luận Phật pháp”.
*
1) Cuốn Abhidhammattha Sanghaha là một cuốn cẩm nang toát yếu quan trọng về A-tỳ-đàm của ngài luận sư Anurudha, soạn ra trong thế kỷ 12, mà có lẽ đa số các học giả và học viên A-tỳ-đàm, qua nhiều thế kỷ và tại nhiều quốc độ, đều dùng như là một sách giáo khoa cơ bản để học bộ môn nầy.
2) Abhidhamma ngày nay thường được dịch là “Vi Diệu Pháp”. Riêng tôi, tôi thích dùng chữ “A-tỳ-đàm” để phiên âm, và có một thời, tôi thích dùng chữ “Thắng Pháp” của ngài Hòa thượng Minh Châu. Cũng có người dịch là “Vô Tỷ Pháp”.
3) Ngài Hòa thượng Narada đầu tiên dịch bản Pali sang tiếng Anh ("A Manual of Abhidhamma"), kèm theo những chú thích dựa vào các bản Chú giải A-tỳ-đàm. Ngài Hòa thượng Minh Châu dịch từ bản tiếng Anh của ngài Narada sang tiếng Việt -- với tựa đề "Thắng Pháp Tập Yếu Luận". Ngài Minh Châu cũng có tham khảo đối chiếu một bản Anh dịch khác của Hòa thượng Kashyap, Viện trưởng Viện Phật học Nalanda. Bản Việt dịch chia thành 2 tập, xuất bản năm 1971-1973.
Năm 1989, chùa Kỳ Viên (Washington DC, Hoa Kỳ) tái bản, gộp 2 tập Việt dịch của ngài Minh Châu thành 1 cuốn.
==> http://budsas.net/uni/u-vdp-mc/vdpmc00.htm
4) Ngoài bản Việt dịch đó, còn có một bản Việt dịch khác của bác Phạm Kim Khánh, với tựa đề “Vi Diệu Pháp Toát Yếu”, dựa theo bản tiếng Anh của ngài Narada, hiệu đính năm 1978.
==> http://budsas.net/uni/u-vdp-ty/vdpty00.htm
5) Đến năm 1993, ngài Tỳ-khưu Bodhi hiệu đính và biên tập lại bản Anh dịch của ngài Narada, với sự đóng góp của Hòa thượng Revata Dhamma và Hòa thượng Silananda. Cuốn nầy được BPS (Buddhist Publication Society, Colombo, Sri Lanka) xuất bản, với tựa đề "A Comprehensive Manual of Abhidhamma". Theo tôi, bản nầy tương đối tốt nhất, dễ đọc, và rõ ràng nhất.
Có thể tải về bản tiếng Anh nầy tại:
==> http://budsas.net/sach/en52.zip
Rất mong một ngày nào đó sẽ có một vị học giả A-tỳ-đàm phát tâm hiệu đính, biên tập và bổ sung bản dịch của ngài Minh Châu, dựa theo bản tiếng Anh nầy của Tỳ-khưu Bodhi.
(Bình Anson, 09/04/2015)

Saturday, 13 June 2015

TL1

Rừng Điệu Ngộ



Đến là khi chưa có mặt ở nơi đến
Do đó, nếu ta đã có mặt ở đó rồi
Thì làm gì có đến.
Cũng vậy,
Ngộ đang ở đây, trong tim anh
Của một thời thật đẹp
Thì Ngộ đã đến từ ngày 12 năm 2014 rồi
Đến và đi
Là vậy thôi!

Ngộ ở đây xinh đẹp lắm
Nghe em ngêu ngao thắm tiếng đàn anh
Em chỉ anh làm nước chấm
Đó là em và em mãi tại đây!

ĐỗNguyễn

Em đến bên anh..ngày ấy..12

 12. Juni 2015


Ngày vui nhất

Đi chợ nghĩ về hoa
Như những lần hoa trước
Nhưng hôm nay may mắn:
Xinh hoa tím tung tăng!

Hai ly cho hai đứa,
Rượu đỏ mừng duyên xưa!
Hỏi trên đời tỷ người,
Mà em đến bên anh?

ĐỗNguyễn

Friday, 12 June 2015

rừng Điệu Ngộ

Rừng Điệu Ngộ xanh xanh 2015

Ngày 12 về rừng Điệu Ngộ
 
Anh về rừng Điệu Ngộ
Màu xanh phủ trọn lối
Anh đi giữa mênh mang
Nhớ em trong rừng êm!

Một năm trôi mau nhỉ
Người anh thương xa xa
Anh cứ ngỡ gần em
Mới biết xa vẫn xa!

Ôi sao em hiểu anh
Khi em không muốn hiểu
Anh muốn nên anh khác
Hiểu em dù em xa!

ĐỗNguyễn
chưa thấy em vào thăm blog!

12

Ngộ thương,

Nhân được giới thiệu bởi ca sĩ Quỳnh Dao trong youtube anh biết đến bài hát Bến giang đầu, nhân đây QD nói là Hà Thanh hát bài này hay nhất.
Do đó, mời em cùng nghe:

ĐỗNguyễn



Thursday, 11 June 2015

Sáng 12- Celebration

Ngày đẹp trong tháng sáu! Celebration!


12-Ngộ

Thường là mỗi lúc này
Khi Ngộ sắp dậy sáng
Anh viết thêm mấy dòng
Cho em những nhớ mong!

Hôm nay đi siêu thị
Anh nhớ ngày mười hai
Tưởng rằng sắp tới thôi
Ai dè hôm nay rồi!

Chai Procesco sẵn sàng
Hôm nay sẽ mua hoa
Chúc mừng anh quen em
Ngày kỉ niệm quý yêu!

ĐỗNguyễn
chúc em ngày thứ sáu 12 an vui!




Em, khát vọng

Khát vọng
Của một người Đà nẵng
Vừa mới mất
Ông để lại những chiếc cầu
Xinh đẹp nhất
Cho Đà nẵng

Khuya nghe
Cà phê
Ước vọng
Của một doanh nhân tài
ĐLNV

Bill Gate
Windows 95
Và bây giờ
Windows 8
Từ khát vọng
Ban đầu..

ĐỗNguyễn

Thang 6

Ru ta ngam ngui, bài em thích!

Ngộ thương,

Trước khi đi nghỉ khuya
Hôm nay đã trã bill
Xem được Tedvn hay
Bình thường và nhẹ nhàng

ĐỗNguyễn

Wednesday, 10 June 2015

Ngộ về tháng sáu

 Một thời kỉ niệm, nơi nuôi cánh chim Én mùa xuân

Đêm ngủ ngon

Ngộ về thăm vườn cũ
Cây vườn thêm tươi mát
Đón người xưa ca hát
Vì Ngộ là nắng vàng!

Trời đêm qua xứ Đức
Sau một ngày sinh hoạt
Thấy Ngộ thăm vườn ta
Giấc ngủ đến nhẹ nhàng!

ĐỗNguyễn

Monday, 8 June 2015

Bốn bài tập căn bản




Giới thiệu

Bài sau đây do anh Bình trình bày trên Net. Xin giới thiệu để không bị lãng quên! 

Bốn bài tập căn bản
Hội Phật Giáo Tây Úc
(Buddhist Society of Western Australia)

Bài tập 1 - Các bước sửa soạn

Giới thiệu: 2 pháp thiền, thiền an chỉ (samatha bhavana) & thiền minh quán (vipassana bhavana)
Mục đích: an tịnh tâm và phát triển tuệ quán
Sửa soạn nơi chốn, thời gian, đều đặn hằng ngày
Tư thế ngồi
Lắng tâm, ghi nhận các giòng tư tưởng và ghi nhận sự vắng lặng giữa các giòng tư tưởng
Theo dõi hơi thở, không ức chế tư tưởng

Bài tập 2 - Quán cảm thọ 

Sơ lược về 5 điều ngăn che (triền cái): dục tham, sân hận, hôn thụy, trạo cử, nghi ngờ
Quán cảm thọ bằng cách ghi nhận, quán sát toàn thân, từ đỉnh đầu đến bàn chân

Bài tập 3 - Thiền hành & thiền trong đời sống

Cách thức đi chậm rãi từng bước & theo dõi sự chạm xúc với mặt đất
Tỉnh thức, ghi nhận, chú tâm trong mọi tình huống, mọi động tác trong đời sống

Bài tập 4 - Thiền tâm Từ

Lắng tâm, buông xả, nhẹ nhàng
Rãi tâm Từ theo sự liên hệ: từ bản thân, đến người thân trong gia đình, họ hàng, bạn bè, người xa lạ, người oan trái, mọi chúng sinh ... rồi trở về tự thân
Rãi tâm Từ theo không gian: lấy bản thân làm trung tâm điểm, rãi rộng ra, từ gần đến xa, rồi trở về tự thân ...


-oOo-


HỘI PHẬT GIÁO TÂY ÚC


GIỚI THIỆU VỀ THIỀN - BÀI TẬP 1


TỔNG QUÁT VỀ THIỀN


1. Có hai pháp thiền Phật giáo:


a. Thiền an chỉ – phát triển sức định và sự an tịnh của tâm


b. Thiền minh sát – phát triển hiểu biết và tuệ giác


Hai pháp thiền này kết hợp với nhau như đôi cánh của một con chim.


2. Trong khóa thiền này, chúng ta sẽ thực hành một phương pháp thiền căn bản. Các giai đoạn của thiền tập là: Nhận thức khoảnh khắc hiện tại, Tĩnh lặng nhận thức khoảnh khắc hiện tại, Tĩnh lặng nhận thức khoảnh khắc hiện tại của hơi thở, và Chú tâm hoàn toàn vào hơi thở.


Với tâm không mong cầu kết quả tức thì, một người sẽ sẵn lòng rèn tâm một cách kiên trì. Người ấy sẵn sàng đầu tư thời gian và sẵn sàng học hỏi từ bất kỳ khó khăn nào có thể gặp phải.



PHƯƠNG PHÁP


Đối với thiền an chỉ, mục đích chính là làm an tịnh tâm bằng cách duy trì chú tâm vào một đề mục. Ở đây, chúng ta sử dụng luồng hơi thở tự nhiên làm đề mục để định tâm.


a) Đặt một khoảng thời gian cho việc hành thiền, khoảng 20 phút chẳng hạn.


b) Ngồi đúng tư thế.


c) Khép mắt rồi quyết tâm ngồi yên trong khoảng thời gian đó, buông bỏ tất cả mọi lo toan thường nhật.


d) Hướng sự chú ý tới những gì đang diễn ra trên thân tâm ngay thời điểm hiện tại. Đây là Nhận thức khoảnh khắc hiện tại.


e) Buông bỏ mọi thứ xung quanh bạn, để cho cảm giác cô độc và tĩnh lặng sinh khởi, như thể đang được bao trùm bởi sự trống rỗng. Đây là Tĩnh lặng nhận thức khoảnh khắc hiện tại.


f) Sau đó, tập trung chú ý đến luồng hơi thở tự nhiên, kinh nghiệm các cảm giác của hơi thở, nhận biết mỗi hơi thở ra, hơi thở vào, từ đầu tới cuối, đặc tính của hơi thở như dài hay ngắn, thô hay tế, đều đặn hay không đều đặn. Tuy nhiên, đừng kiểm soát hơi thở. Hãy kinh nghiệm trọn vẹn từng hơi thở một. Đây gọi là Tĩnh lặng nhận thức khoảnh khắc hiện tại của hơi thở.


g) Tiếp theo, chúng ta ghi nhận khoảnh khắc tĩnh lặng hiện tại, tập trung chỉ vào hơi thở mà thôi. Chúng ta luôn ở khoảnh khắc hiện tại với hơi thở trong suốt chu trình của hơi thở, từ khoảnh khắc đầu tiên của hơi thở vào đến khoảnh khắc cuối cùng của hơi thở ra. Đây gọi là Chú tâm hoàn toàn vào hơi thở.


h) Một cách để neo tâm vào hơi thở là đếm số mỗi khi kết thúc hơi thở vào và hơi thở ra. Khi tâm trở lên an định và trụ trên luồng hơi thở thì có thể thôi không đếm nữa.


i) Bất cứ khi nào tâm quên hơi thở và chạy theo hoạt động hay đối tượng khác (hồi tưởng quá khứ, lập kế hoạch tương lai, hay mơ mơ màng màng…), hãy ghi nhận là tâm đang bị xao lãng bởi những thứ đó, hãy dừng lại và nhẹ nhàng quay về chú tâm vào hơi thở. Tiếp tục làm như vậy với sự kiên nhẫn và tỉnh thức bất cứ khi nào hay biết có phóng tâm.


j) Khi kết thúc khoảng thời gian hành thiền đã định trước, hãy ngồi yên một chút và ngẫm lại những gì mình vừa làm trong lúc hành thiền, những gì mình đã kinh nghiệm, để bạn có thể học hỏi làm thế nào đưa tâm đến an tịnh một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn trong thời thiền tới.


* * *


Chế ngự tâm quả là rất khó vì nó luôn ‘nhảy nhót’ và thích bám víu vào những thú vui ngũ trần. Nhưng chế ngự tâm là một điều tốt lành. Tâm vô cùng vi tế và bản chất của nó luôn được ẩn giấu. Người trí cần phải chế ngự tâm vì cái tâm được chế ngự là nguồn hạnh phúc vô tận.


*



HỘI PHẬT GIÁO TÂY ÚC


GIỚI THIỆU VỀ THIỀN - BÀI TẬP 2



TẬP TRUNG VÀ TĨNH LẶNG


Khi bạn định tâm trên hơi thở, ghi nhận đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối của hơi thở vào và hơi thở ra, tâm bạn bắt đầu thoát ra khỏi những tác động của các giác quan bên ngoài, và trở nên tĩnh lặng, tập trung.



CÁC TRIỀN CÁI (CHƯỚNG NGẠI)


Khi tâm không thể tập trung được vào hơi thở là do sự xuất hiện của một trong những chướng ngại sau đây:


1. Tham dục


Đây là tâm nắm bắt, dính mắc vào các đối tượng thuộc ngũ dục. Khi ngồi thiền, tâm có thể trở nên buồn chán và bắt đầu tìm kiếm những thú vui bằng cách phóng tâm chỗ này, chỗ kia, tưởng tượng về tương lai, hồi tưởng những ký ức, kinh nghiệm quá khứ.


Đối trị với tham dục


Ta hãy thử ngẫm xem ham muốn có bao giờ kết thúc, bao nhiêu vấn đề, khổ đau do nó gây ra và có bao giờ tham muốn được thỏa mãn. Hãy học nói ‘không’ với tham muốn ngũ dục vì ta đã thấy dòng chảy của lòng tham là vô tận.


2. Sân, ác ý và khó chịu


Đây là tâm luôn chống lại những đối tượng mà nó không thích, và muốn loại bỏ chúng. Đó có thể là các điều kiện bên ngoài (tiếng ồn, con người, tình trạng thân thể, v.v.) và trong tâm (nỗi đau, sự bất an, buồn ngủ, v.v.) gây khó chịu.


Đối trị với sân, ác ý và khó chịu


Thay vì cố gắng loại bỏ những gì cho là khó chịu, hãy phát triển lòng khoan dung, kham nhẫn với chúng. Hãy tìm hiểu xem những phản ứng sân hận, ác ý, khó chịu gây hại, làm khổ tâm thế nào và thấy được rằng tâm chỉ bình an chừng nào chúng ta có thể chung sống hài hòa với chúng, không nhất thiết phải yêu thích nhưng không nên biến chúng thành vấn đề, chướng ngại.


3. Buồn ngủ và hôn trầm


Đây là tâm nặng nề và mù mờ, chỉ muốn chìm vào giấc ngủ. Đây là trạng thái tĩnh lặng nhưng tâm không sáng suốt và tỉnh táo do thiếu năng lượng.


Đối trị với buồn ngủ và hôn trầm


Lý do phổ biến nhất cho chướng ngại này sinh khởi là vì chúng ta mệt mỏi và thiếu năng lượng. Cách hiệu quả nhất để đối phó với sự lười biếng, hôn trầm này là chấp nhận, hài hòa với chúng. Sau đó thường thì tình trạng sẽ không kéo dài. Khi được nghỉ ngơi một chút, tâm sẽ trở nên tỉnh táo hơn và chúng ta có thể tiếp tục hành thiền.



4. Trạo cử và hối quá


Tâm ở trạng thái lo lắng và bất an, liên tục nhảy từ đối tượng này sang đối tượng khác. Đó là một cái tâm quá nhiều năng lượng và không đủ định tĩnh.


Đối trị với trạo cử và hối quá


Hãy ngồi thật tĩnh lặng và chú ý đến bản chất của hơi thở, thật sự cảm nhận mỗi hơi thở một cách trọn vẹn từ đầu đến cuối, đếm từ 1 đến 10 không gián đoạn. Hãy ghi nhớ sự hài lòng khi trạng thái bất an trở nên mạnh mẽ, chúng ta có thể lặp đi lặp lại một câu niệm thầm như: “tốt rồi”, “tốt rồi”, “tốt rồi”.


Hối quá là có cảm giác tồi tệ về việc mà chúng ta đã làm. Khi loại cảm giác đó xuất hiện thì hãy áp dụng công thức CTH: Chấp nhận những gì đã làm, Tha thứ cho chính mình và Học hỏi từ lỗi lầm. Nên nhớ rằng ai cũng phảm lỗi lầm, dù lớn hay nhỏ.


5. Hoài nghi


Trạng thái tâm khi hoài nghi về những gì mình đang làm, cách làm như thế nào, và khả năng của mình để làm.


Đối trị với hoài nghi


Nếu bạn có bất kỳ hoài nghi nào về phương pháp hay về những gì mình làm thì hãy hỏi thiền sư. Những nghi ngờ đó có thể sẽ được giải đáp thỏa đáng.


* * *


PHƯƠNG PHÁP QUÉT TOÀN THÂN


Ngồi yên lặng ở một tư thế vững chãi. Đưa sự chú ý của bạn lên đỉnh đầu. Hãy kinh nghiệm bất kỳ cảm giác nào sinh khởi, chẳng hạn như hơi ấm, cái ngứa, sự râm ran, tiếng ù ù, v.v. (hoặc không có cảm giác gì rõ rệt). Chú ý tại đấy trong vài giây, sau đó chuyển dần sự chú ý ra phía sau đầu, lại lần nữa tiếp tục ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có mặt. Tiếp tục di chuyển sự chú ý khắp cơ thể, từng phần một, xuống tới bàn chân. Bất cứ chỗ nào có căng thẳng hoặc đau nhức thì hướng tâm đến khu vực đó nhiều hơn. Nếu bạn thấy phương pháp quét này có ích cho sự định tâm và tỉnh giác, bạn có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc quét theo chiều đi xuống và đi lên trên cơ thể vài lần như vậy. Bạn có thể thử nghiệm phương pháp này, chẳng hạn như tốc độ quét hay phạm vi khu vực bạn chú tâm đến, xem như thế nào là phù hợp nhất với mình. Mục đích của bài tập này là để phát triển định tâm và tỉnh giác trên thân.


*


HỘI PHẬT GIÁO TÂY ÚC


GIỚI THIỆU VỀ THIỀN - BÀI TẬP 3



Trong thiền tập, chúng ta phát triển hai phẩm chất tâm quan trọng liên hệ với nhau và hỗ trợ cho nhau, phát triển cái nầy sẽ giúp tăng cường cái kia.


1. Tập trung là khả năng duy trì sự chú ý trên một đề mục trong một khoảng thời gian dài.


2. Nhận thức hay giác niệm là tính hay biết của tâm.



Thiền hành (đi kinh hành)


Thiền hành thường được thực hiện đan xen với tọa thiền. Để bắt đầu, chúng ta có thể đo một quãng đường thiền hành có độ dài khoảng 20 bước chân. Hãy đứng ở một đầu đoạn đường và hướng chú ý đến việc cảm nhận tư thế đứng thẳng của cơ thể. Đôi tay buông xuống, chắp lại với nhau ở phía trước. Mắt nhìn xuống đất ở khoảng cách 2 mét phía trước. Bây giờ, bước từng bước ghi nhận rõ ràng cho đến hết đoạn đường. Dừng lại một chút. Trong vài ba nhịp thở, ghi nhận tư thế đứng. Quay lại, và đi chầm chậm hết đoạn đường. Khi đi kinh hành, hãy ghi nhận các cảm giác trên thân, hoặc chú tâm nhiều hơn vào bàn chân. Bài tập cho tâm là liên tục đưa tâm quay về ghi nhận từng cử động của bàn chân, sự xúc chạm của bàn chân với mặt đất, cảm giác khi dừng lại và bắt đầu bước tiếp.



Thiền tập trong cuộc sống


Tọa thiền rất tốt để phát triển định tâm và làm cho tâm trở nên thanh tịnh hơn. Tuy nhiên, điều quan trọng là có thể đưa thiền vào đời sống hàng ngày, làm cho các sinh hoạt bình thường cũng trở thành một dạng của thiền.


Nếu cuộc sống thường nhật của chúng ta có nhiều bận rộn, xáo trộn khiến tâm trí tán loạn, rất khó có thể tập trung định tâm để ngồi thiền. Mặt khác, nếu chúng ta có thể tỉnh thức trong ngày thì tâm đã khá an ổn khi chúng ta bắt đầu ngồi thiền và sẽ dễ dàng có được định tâm.


Đối với thiền tập trong các sinh hoạt, chúng ta không thể trông đợi đạt được định tâm chỉ trên một đối tượng duy nhất, mà cần phát triển tỉnh giác mở rộng trên bất kỳ hoạt động mà chúng ta đang thực hiện. Rửa bát, quét nhà, tắm rửa, mặc quần áo, v.v. đều có thể là hoạt động thiền tập, nếu được thực hiện trong tỉnh thức. Tỉnh thức tức là hành thiền.


Hai vi dụ về thiền tập khi ăn và đánh răng:


Ăn: Khi ăn, chỉ tập trung ăn thôi, không mơ màng sang chuyện khác. Nhận biết thức ăn và nhìn nó trông ra sao, ghi nhận hành động ăn, gắp thức ăn, đưa vào miệng và nhai, cảm nhận hương vị và độ cứng, mềm, dai, giòn,v.v. của thức ăn.


Nếu có bất kỳ suy nghĩ thích hay không thích khởi lên trong tâm, hãy nhận biết chúng chỉ là những suy nghĩ và cảm thọ. Hành động ăn của chúng ta là điểm tham chiếu để có thể nhận thức rõ hơn đối về những hoạt động này của tâm.


Đánh răng: Khi đánh răng, chỉ tập trung đánh răng thôi, không mơ màng sang chuyện khác. Hãy kinh nghiệm trọn vẹn hành động chải răng, ghi nhận từng khu vực đã được chải và khu vực còn lại. Bất kỳ suy nghĩ, kế hoạch hay ký ức nào xuất hiện trong tâm, hãy ghi nhận chúng chỉ là những suy nghĩ, cảm thọ và quay trở lại với thực tại của hoạt động đánh răng.


Những gì chúng ta làm khi hành thiền sẽ tác động đến những gì chúng ta làm hàng ngày và ngược lại những gì chúng ta làm hàng ngày sẽ ảnh hưởng đến việc hành thiền. Luôn sống với khoảnh khắc hiện tại và ghi nhận những gì mình đang làm, chúng ta sẽ hiểu bản thân mình rõ hơn, bởi vì chúng ta nhận ra được bản chất của tâm với những xu hướng, thói quen của nó. Nếu những phản ứng theo thói quen này Trong các tình huống gây ra những vấn đề khổ đau cho bản thân hay cho người khác, chúng ta có thể từ từ thay đổi chúng.


* * *


RỬA BÁT


Khi rửa bát, ta nên chỉ tập trung vào việc rửa bát. Nếu như khi rửa bát, ta lại nghĩ đến tách trà thơm ngon đang chờ thì ta lại vội vàng rửa rồi cất cho nhanh, như thể chúng là thứ phiền toái vậy. Như thế là chúng ta không sống trong khoảng thời gian rửa bát.


Thực tế ta ở đây rửa những chiếc bát này là một thực tại mầu nhiệm, một điều kỳ diệu của cuộc sống.


Nếu ta không thể rửa những chiếc bát này thì rất có thể là ta cũng không thể uống trà được. Khi uống trà, chúng ta cũng sẽ nghĩ đến những việc khác, vừa đủ biết có chiếc cốc trên tay mà thôi. Như vậy chúng ta đã hoàn toàn bị cuốn vào tương lai – chúng ta không có khả năng sống một phút của đời mình.


– Thích Nhất Hạnh



HỘI PHẬT GIÁO TÂY ÚC


GIỚI THIỆU VỀ THIỀN - BÀI TẬP 4




TÂM TỪ


Tâm từ là một trạng thái tâm bao gồm những cảm giác thân thiện, lòng nhân từ, tình bằng hữu, hữu nghị, hòa hợp, vô hại, không bạo lực.


Người ta có thể dễ nhầm lẫn tâm từ (metta, loving-kindness) với tình yêu đôi lứa, tuy nhiên, với tâm từ thì chúng ta mở rộng thiện ý mà không có những ý nghĩ dục ái về những gì ta có thể lấy được từ người khác. Chúng ta trải rộng tình yêu thương tới tất cả chúng sinh, dù lớn hay nhỏ, dù xa hay gần, chứ không chỉ những ai mà chúng ta yêu mến.


Chúng ta có thể thực hành tâm từ như một pháp thiền chính thức. Chúng ta bắt đầu bằng cách hướng các ý nghĩ từ mẫn đến chính bản thân mình. Đây là bước cần thiết để có thể hướng thiện ý đến những người khác. Chúng ta ngẫm thấy một thực tế rằng mọi chúng sinh đều muốn được hạnh phúc và chính điều này đã thúc đẩy sự gắn kết giữa chúng ta. Chúng ta suy ngẫm bằng một cách có ý nghĩa cho chúng ta, thí dụ: “Bởi tôi mong muốn được an vui hạnh phúc, thoát mọi khổ đau, nên các chúng sinh khác cũng vậy. Cầu cho tất cả mọi chúng sinh đều được an vui hạnh phúc, thoát mọi khổ đau”. Đôi khi khó có thể rải tâm từ đến bản thân, trong trường hợp đó chúng ta hãy nhớ lại những thiện pháp đã làm và nhìn nhận mình xứng đáng được hưởng hạnh phúc.


Sau khi rải tâm từ cho chính mình, bạn hãy hướng thiện ý ấy tới một người mà bạn ta kính mến, ví dụ như vị thầy hoặc cha, mẹ mình. Sau đó mở rộng tâm từ đến những người mà mình yêu quý, đến người xa lạ, không quen biết, và cuối cùng là đến những kẻ thù hoặc những người mà chúng ta thấy khó ưa. Vì pháp thiền này liên quan đến lợi ích của chúng sinh còn hiện tiền, chúng ta không chọn người chết để rải tâm từ, và cũng không nên chọn người khác phái mà mình có tình cảm luyến ái. Thay vì xem xét từng nhóm người khác nhau như vậy, chúng ta có thể rải và mở rộng tâm từ theo không gian, bắt đầu từ những chúng sinh tại trú xứ này, rồi đến thành phố này, đất nước này, thế giới này và cuối cùng là tất cả mọi chúng sinh trong vũ trụ.


Khi chúng ta hướng tâm tới các chúng sinh này, chúng ta thầm niệm nhiều lần câu chúc như: “Cầu cho bạn được an vui, cầu cho bạn được khỏe mạnh, cầu cho bạn thoát mọi khổ đau”. Đây là một lời nhắc nhở trong tâm chứ không phải là mục đích tối hậu của thiền tập. Điều thực sự chúng ta muốn là làm khơi gợi những thiện ý và phản ánh bằng tâm đến những chúng sinh mà ta hướng tâm tới. Bằng cách thực hành như vậy, tâm thiện dễ dàng sinh khởi và được trưởng dưỡng. Trên thực tế, có thể thấy tâm thiện này tăng trưởng tới một thời điểm mà chúng ta có thể buông bỏ được đối tượng của tâm từ, và chuyển sang chú ý đến chính các cảm nhận thiện ý đó.


Ngoài việc thực hành tâm từ theo hình thức như vậy, chúng ta có thể áp dụng pháp thiền này vào trong cuộc sống hàng ngày, đem lại một cái nhìn mới đối với mọi sự vật. Cách này cũng hỗ trợ cho việc thiền tập chính thức, giống như việc thực hành tỉnh thức trong sinh hoạt hàng ngày hỗ trợ cho thực hành niệm hơi thở trong các thời thiền. Sau khi thực hành vài thời thiền tâm từ và phát triển được chút ít nhận thức về các trạng thái của tâm, chúng ta có thể trở nên tỉnh thức hơn trong các tình huống hàng ngày, khi trực nghiệm những suy nghĩ tiêu cực hay ích kỷ. Khi nhận biết được như thế, chúng ta có thể nỗ lực, sáng suốt để buông bỏ những suy nghĩ tiêu cực và phát khởi tâm từ. Bằng cách thực hành thường xuyên, chúng ta sẽ thấy những thói quen cũ của tâm sẽ dần được ‘bào mòn’ và chúng ta sẽ chứng nghiệm các trạng thái tâm an vui hơn.


* * *


KINH LÒNG TỪ





Người hằng mong thanh tịnh:
Nên thể hiện pháp lành,
Có khả năng, chất phác,
Hiền hòa, không kiêu mạn.


Sống dễ dàng, tri túc,
Thanh đạm không rộn ràng,
Lục căn luôn trong sáng,
Trí tuệ càng hiển minh


Chuyên cần, không quyến niệm,
Không làm điều ác nhỏ,
Mà bậc trí hiền chê,
Nguyện thái bình an lạc,
Nguyện tất cả sinh linh,
Tràn đầy muôn hạnh phúc


Chúng sinh dù yếu mạnh,
Lớn nhỏ hoặc trung bình,
Thấp cao không đồng đẳng,
Hết thảy chúng hữu tình,
Lòng từ không phân biệt,
Hữu hình hoặc vô hình.
Đã sinh hoặc chưa sinh,
Gần xa không kể xiết.
Nguyện tất cả sinh linh,
Tràn đầy muôn hạnh phúc.


Đừng lừa đảo lẫn nhau,
Chớ bất mãn điều gì,
Đừng mong ai đau khổ,
Vì tâm niệm sân si,
Hoặc vì nuôi oán tưởng.


Hãy mở rộng tình thương,
Hy sinh như từ mẫu,
Suốt đời lo che chở,
Đứa con một của mình,
Hãy phát tâm vô lượng,
Đến tất cả sinh linh.


Từ bi gieo cùng khắp,
Cả thế gian khổ ải,
Trên dưới và quanh mình,
Không hẹp hòi oan trái,
Không hờn giận căm thù.


Khi đi, đứng, ngồi, nằm,
Bao giờ còn thức tỉnh,
Giữ niệm từ bi nầy,
Thân tâm thường thanh tịnh,
Phạm hạnh chính là đây.


Ai xả ly kiến thủ,
Có giới hạnh nghiêm trì,
Đạt Chánh trí viên mãn,
Không ái nhiễm dục trần,
Thoát ly đường sinh tử.



(Lời Đức Phật dạy về lòng Từ, đã được hàng Phật tử tụng đọc trong hơn 2.500 năm qua)



Bước đầu hành thiền


Sarah K. Lim
Bình Anson trích dịch


Giới thiệu: Bà Sarah Lim là một Phật tử gốc Singapore, hiện đang sinh sống tại Úc và có nhiều đóng góp tích cực trong các sinh hoạt Phật giáo. Bài nầy được trích dịch từ một bài pháp thoại của Bà tại thành phố Perth, Tây Úc, vào tháng 9 năm 2002.


-ooOoo-

Qua kinh nghiệm cá nhân cũng như qua các trao đổi với các bạn thiền sinh khác, tôi nghĩ rằng chúng ta cần có một chương trình hành thiền tại nhà, sắp đặt rõ ràng tuần tự từng bước.

Nơi chốn

Trước tiên, cần phải có một chỗ thích hợp cho việc thực tập hằng ngày, để khỏi bị làm phiền trong lúc tập. Nơi hành thiền cần phải yên tĩnh và thoáng mát. Nếu có được một phòng nhỏ dành riêng cho việc hành thiền thì thật là tốt. Khi xây nhà, chúng tôi thiết kế một phòng ăn dành để đãi khách, đặt kế cạnh phòng tiếp khách, theo mô hình nhà cửa của dân chúng địa phương. Nhưng khi dọn về ở, chúng tôi thấy rằng mình cũng ít khi tiếp khách, không còn thích lối sống ồn ào, thù tiếp khách khứa nữa. Vì thế, chúng tôi quyết định biến đổi phòng đó thành một nơi để thờ phượng và hành thiền.

Trong phòng thiền, chúng tôi không trang hoàng bày biện rườm rà. Đơn giản chỉ có một bàn thờ nhỏ với tượng Phật. Chung quanh tường là các kệ sách nhỏ để lưu các bộ kinh điển và tài liệu tham khảo Phật giáo. Trên sàn nhà là một tấm thảm, nơi chúng tôi quỳ lễ bái, tụng kinh, và ngồi hành thiền. Tôi dùng một tủ thấp, có chiều cao khoảng 80 cm, để làm bàn thờ. Trên đó, chúng tôi kê thêm một bục gỗ nhỏ để đặt tượng Phật. Đây là tượng Phật bằng hợp kim đồng thau màu vàng, cao khoảng 30 cm, thỉnh từ Thái Lan. Tôi cũng đặt thêm một lư hương nhỏ và một cặp nến điện, mua ở khu thương xá Á Đông. Thỉnh thoảng, vào các dịp lễ, chúng tôi đặt thêm một lọ hoa tươi. Tôi thích bố trí như thế, đơn giản nhưng trang nghiêm. Bàn thờ có độ cao vừa tầm nhìn khi chúng tôi quỳ lạy hay ngồi hành thiền, để có thể chiêm ngắm tượng Phật, và cảm thấy gần gũi với Đức Bổn Sư.

Thật ra, nơi hành thiền không cần phải đặc biệt. Điều quan trọng là chúng ta nên tạo lập một chỗ nhất định và thời gian hành thiền cố định, để có được một thói quen đúng giờ, đúng nơi. Thêm vào đó, trước khi hành thiền, để tránh các cú điện thoại quấy rầy, tôi thường điều chỉnh máy điện thoại sang dạng trả lời tự động và điều chỉnh tiếng reo thật nhỏ.

Mỗi ngày, tôi lễ bái và hành thiền hai lần: buổi tối, lúc 10 giờ đêm; và buổi sáng sớm, lúc 5 giờ sáng, trước khi những người trong nhà thức dậy. Lúc sáng sớm là lúc tâm trí thoải mái và cơ thể khỏe khoắn. Một thiền sinh thực tập nghiêm túc sẽ luôn hành thiền vào những giờ nhất định, vì biết rằng chỉ cần đủ giờ ngủ nghỉ thì thân thể không mệt mỏi và tâm hồn tỉnh táo.

Khi trước, tôi thường thắp nến sáp, nhưng gần đây thì tôi chuyển sang dùng nến điện. Ánh sáng nến tỏa ra từ bàn thờ Phật nhắc nhở tôi ánh sáng từ bi và trí tuệ của Đức Bổn Sư. Ánh sáng nầy cũng giúp tạo một không khí trang nghiêm nhưng hiền hòa, ấm cúng trong phòng thiền. Thêm vào đó, mỗi khi tâm tôi chạy lang thang, ánh sáng từ ngọn nến giúp đưa tôi trở về hiện tại, tại nơi chốn này, nơi tôi đang ngồi thiền, theo dõi hơi thở của mình.

Tụng kinh

Buổi sáng, khi tâm trí tỉnh táo sau giấc ngủ, tôi chỉ tụng vài câu kinh ngắn rồi bắt đầu hành thiền. Vào phòng thiền, tôi quỳ xuống và bắt đầu lạy ba lạy, chậm rãi từ tốn, với bàn chân, đầu gối, tay và trán chạm mặt đất, như chúng ta thường thấy Phật tử lễ bái tại các chùa trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Trong tư thế quỳ, tôi chấp tay, và đọc 3 lần câu: "Namo tassa bhagavato arahato samma-sambuddhassa" (Con thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác), rồi đọc tóm tắt lời tán dương Tam Bảo và lễ lạy sau mỗi câu.Sau đó, tôi bắt đầu hành thiền.

Buổi tối, sau một ngày làm việc mệt nhọc, tôi thường cảm thấy buồn ngủ. Thêm vào đó, nếu phải lo nghĩ nhiều việc trong ngày, tâm tôi rất khó an định. Vì thế, tôi thường tụng kinh nhiều hơn, và thời gian dành cho hành thiền thì ngắn hơn buổi sáng - ngoại trừ vào ngày cuối tuần hay trong các ngày nghỉ, khi tâm trí thoải mái, thư dãn thì tôi có nhiều thì giờ hành thiền hơn. Tôi bắt đầu quỳ lạy và tụng câu "Namo tassa ..." như khóa lễ buổi sáng, nhưng sau đó, tôi tụng đầy đủ bài kệ tán dương ân đức Tam Bảo.

Tiếp theo, tôi tụng đọc bài kệ quy y Tam Bảo, năm học giới của cư sĩ (Ngũ Giới), năm điều quán tưởng hằng ngày, và bài kinh Từ Bi. Đây là các bài tụng phổ thông bằng tiếng Pāli mà tôi đã học được từ cuốn băng cassette do chư Tăng thu âm và phổ biến tại chùa. Tụng kinh chậm rãi, rõ ràng từng chữ, giúp tập trung tâm trí và giúp ta tăng thêm niềm tín thành nơi Tam Bảo. Sau đó, tôi bắt đầu hành thiền.

Hành Thiền

Khi ngồi thiền, các bạn nên giữ lưng cho thẳng nhưng thư thả, nhẹ nhàng, thăng bằng, không căng thẳng. Đầu giữ thẳng, cân bằng trên vai, mặt hướng về bàn thờ, không nên gục xuống, mắt nhẹ nhàng khép lại nhưng không hoàn toàn khép hẳn. Nhiều người có thể ngồi ngay trên sàn nhà, theo tư thế kiết già hay bán kiết già như ta thường thấy qua các tượng Phật, và họ cho rằng đó là tư thế tốt nhất. Riêng phần tôi, tôi không thể ngồi được trong tư thế đó. Tôi thường ngồi trên một tọa cụ - là một cái gối nhỏ, và hai chân đặt song song như kiểu ngồi của người Miến Điện. Như thế, tôi cũng tạo được ba điểm tựa vững chắc để nâng đỡ thân thể, với bàn tọa đặt trên gối nệm và hai đầu gối chạm mặt đất. Đôi khi, chân tôi lại trở nên quá đau nhức, tôi chuyển sang dùng một cái ghế nhỏ, kê dưới mông, và ngồi trong tư thế quỳ, như kiểu ngồi của các thiền sinh Nhật Bản. Bạn có thể ngồi trên ghế cao nếu bạn không quen ngồi trên sàn đất. Điều quan trọng là bạn giữ lưng cho thẳng, không dựa vào thành ghế, để tránh ngủ gật.

Hai tay nhẹ nhàng đặt trên đùi, bàn tay để chồng lên nhau, với hai đầu ngón cái chỉ chạm nhẹ vào nhau. Thêm vào đó, tôi thấy rằng trong lúc hành thiền, ta nên mỉm cười, nụ cười hiền hoà như thường thấy ở các hình tượng Đức Phật. Nụ cười mỉm nầy giúp tâm trí ta được vui tươi, an lạc. Khép nhẹ đôi mắt, tôi ghi nhận cảm giác của toàn thân, từ đỉnh đầu xuống đến bàn chân, ghi nhận tư thế ngồi vững vàng, thoải mái. Rồi tự nhủ thầm: "Bây giờ, tôi sẽ bắt đầu hành thiền, chú tâm vào hành thiền, không quan tâm đến việc gì khác".

Bước đầu của việc hành thiền là theo dõi hơi thở. Thở tự nhiên, điều hòa, bình thường, không cố ý ép thở nhanh hoặc chậm, dài hay ngắn. Chú ý để tâm nơi lỗ mũi, theo dõi hơi thở vào... ra... vào... ra... Chú tâm đến luồng hơi khi nó vừa đến chạm lỗ mũi, và khi luồng hơi khi sắp sửa thoát ra khỏi mũi. Ghi nhận sự chạm xúc, các cảm giác, sự nóng lạnh, tiếng sột soạt trong ống mũi, nếu có.

Hãy chú ý ghi nhận tất cả nhưng không phân tích, bình luận hay giải thích gì cả. Chỉ đơn thuần một sự ghi nhận. Bạn sẽ thấy hơi thở từ từ mỏng dần và nhu nhuyển, nhẹ nhàng hơn, cho đến lúc bạn có cảm giác là dường như bạn không còn thở nữa. Thật ra, đó là lúc mà hơi thở đã được an định, và trở nên rất dễ chịu. Lúc đó, không còn "bạn" là người đang thở, mà chỉ có một hơi thở đang xảy ra, và một sự nhận biết, ghi nhận, theo dõi hơi thở đó.

Công phu hành thiền tiến triển tốt đẹp khi ta có thể giữ tâm gắn chặt vào một đề mục - ở đây là theo dõi hơi thở - trong một thời gian dài. Khi bạn có thể quán sát, ghi nhận từng hơi thở, diễn trình của luồng hơi, từ lúc sinh khởi cho đến khi tàn diệt. Khi nó đi vào cũng như đi ra. Mỗi một hơi thở là một hiện tượng mới lạ, một cảm giác mới lạ. Bạn ghi nhận, theo dõi, rồi buông bỏ khi nó tàn diệt. Rồi tiếp tục ghi nhận hơi thở khác, mới vừa sinh khởi. Tâm bạn giống như người giữ cửa, đón chào và ghi nhận người khách bước vào hay bước ra khỏi nhà, mà không cần tìm hiểu tông tích, mục đích, hay công việc của ông ta. Khách khứa ra vào liên tục. Nếu bạn trò chuyện với một vị khách nào thì bạn không thể ghi nhận kịp thời các vị khách khác.

Theo lời khuyên của thiền sư, tôi bắt đầu tập ngồi thiền khoảng 15 phút, đều đặn mỗi ngày trong một tuần lễ. Rồi dần dần gia tăng thêm 5, 10 phút trong các tuần lễ kế tiếp, cho đến khi tôi có thể hành thiền trong khoảng 30 đến 45 phút. Để định thời gian hành thiền, có người thắp một cây nhang và ngồi thiền cho đến khi cây nhang tàn rụi. Tôi không dùng phương cách đó vì mùi trầm hương tỏa ra rất hăng nồng, khiến tôi khó định tâm. Lúc đầu, tôi dùng đồng hồ reo để định thời gian cho buổi thiền. Nhưng dần dần thì tâm tôi quen với thời gian định sẵn và tôi không còn cần dùng đến loại đồng hồ đó nữa.

Thông thường, bạn sẽ thấy thay vì theo dõi hơi thở, tâm bạn không chịu ở yên một nơi mà lại hay đi lang thang đây đó, suy nghĩ vẩn vơ, rồi nhiều lời nói thì thầm, lải nhải xuất hiện trong đầu bạn. Đó là hiện tượng rất tự nhiên, người nào cũng phải trải qua. Bạn chỉ nhẹ nhàng nhận diện chúng, rồi quay về với đề mục hành thiền là luồng hơi thở tại lỗ mũi.

Nếu bạn cảm thấy khó chú tâm tại mũi, bạn có thể áp dụng kỹ thuật niệm. Bạn niệm chữ "Buddho" (Bút-Thô), nghĩa là Phật-Đà hay Đức Phật. Bạn đọc thầm trong tâm chữ "Bút" khi thở vào, và chữ "Thô" khi thở ra. Bút ... thở vào, Thô ... thở ra. Bút ... Thô ... Bút ... Thô ... Bút ... Thô ... Đây là một phương cách rất phổ biến của giới thiền sinh Thái Lan mà chính tôi cũng đã thử qua và thấy rất hiệu nghiệm để giúp định tâm. Có người bảo đó là pháp niệm Phật, có người bảo đó là pháp niệm chú. Tên gọi như thế nào cũng được, không hề gì. Điều quan trọng là đã có nhiều người áp dụng pháp đó và có hiệu quả định tâm rất tốt. Khi tâm tương đối được an định rồi, bạn bỏ pháp niệm đó, trở về việc theo dõi hơi thở vào ra tại lỗ mũi, lặng lẽ, đơn thuần.

Có thiền sinh dùng kỹ thuật đếm hơi thở, từ số 1 đến số 10. Thở vào, thở ra, đếm Một. Thở vào, thở ra, đếm Hai. Thở vào, thở ra, đếm Ba, ... cho đến Mười, rồi trở về đếm Một, Hai, Ba, ... Tôi đã thử áp dụng nhưng cảm thấy phương cách nầy không thích hợp cho tôi, vì nó có vẻ gượng ép, không tự nhiên.

Bạn không nên cho rằng thật là vô ích, phí thì giờ khi bạn bị phóng tâm, suy nghĩ vẩn vơ hay vô ý ngủ gật. Đây là những trở ngại thông thường mà thiền sinh chúng ta đều phải đối diện và nhận biết. Bạn không nên bi quan, nản chí, hay nóng nảy, buồn giận. Để thành công, chúng ta phải kiên nhẫn và có một thái độ thư thả, dịu dàng để huân tập tâm ý. Các vị thiền sư đều khuyên chúng ta phải biết nhẫn nại và kiên trì, phải cố gắng thực tập đều đặn. Mỗi buổi thiền là một bước đi trên con đường mà chư Phật đã vạch ra, dần dần đưa ta tiến đến mục đích giải thoát tối hậu của mỗi người con Phật.

Trải rộng lòng Từ

Tiếp theo phần niệm hơi thở, tôi chuyển sang pháp hành thiền tâm Từ. Có nhiều phương cách khác nhau, bạn cần phải thử nghiệm để chọn một cách thích hợp cho riêng mình.

Vẫn trong tư thế ngồi thư thả, với nụ cười nhẹ nhàng trên môi, với tâm an định, tỉnh thức và xả ly, tôi thầm nguyện trong tâm: "Xin cho tôi được an lạc". Với niềm vui nhẹ nhàng đó, tôi đưa tâm ghi nhận từng nơi trên thân thể, từ đỉnh đầu đến mặt, hai vai, hai tay, ngực, bụng, bắp đùi, rồi bàn chân. Thông thường, khi làm như thế, tôi thấy có một cảm giác ấm áp, an nhẹ bao trùm toàn thân thể.

Với cảm giác an bình như thế, tôi bắt đầu hướng tâm đến những người thân trong nhà, nguyện cho các người ấy được an lạc. Rồi hướng tâm đến những người láng giềng, cùng xóm, rồi những người cộng sự tại sở làm, những người bạn đạo, những vị tu sĩ và bạn bè quen biết, những người đang sống tại thành phố này, tại xứ sở này, trên lục địa nầy, và dần đần hướng tâm Từ đến toàn thể nhân loại, toàn thể chúng sinh trong cõi Ta-bà. Mỗi lần chuyển đối tượng, tôi dừng lại vài phút, nghĩ đến đối tượng đó với cảm giác nồng ấm, an lạc, và nguyện cho họ cũng được an lạc như thế.

Hành thiền tâm Từ theo phương cách nầy thường mất khoảng 10, 15 phút.

Xả Thiền

Trong tư thế ngồi, tôi từ từ mở mắt. Hướng về tượng Phật, tôi chấp tay, thành kính tạ ơn Đức Bổn Sư, tạ ơn Ngài đã ban cho tôi một pháp hành để đưa đến an tịnh và trí tuệ giải thoát. Sau đó, tôi dùng tay nhẹ nhàng xoa bóp bàn chân và toàn thân thể.

Chuyển sang tư thế quỳ, tôi chấp tay tụng đọc bài kinh hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh. Lạy ba lần rồi thong thả đứng lên trong chánh niệm, tỉnh giác.

Đi kinh hành

Trong những ngày nghỉ hoặc khi có nhiều thì giờ, bạn có thể thực tập thêm pháp thiền hành, ngay trong nhà hay ngoài sân. Có thiền sư dạy rằng chỉ nên chọn một đường đi khoảng hai mươi hoặc ba mươi bước chân là vừa đủ, vì nếu khoảng cách dài hơn thì tâm trí sẽ dễ chạy đi nơi khác, còn nếu quá ngắn thì lại không đủ thời gian để đem tâm an trú vào bước chân. Riêng tôi, ngoại trừ những lúc trời mưa, tôi thường thích đi kinh hành ngoài sân vườn.

Chúng tôi thiết lập mội lối đi ngoài sân, vòng quanh nhà, rộng khoảng 1 mét, lát gạch, và tôi thực tập thiền hành trên lối đi đó. Tôi bước vòng quanh nhà theo chiều kim đồng hồ, tương tự như các Phật tử thường đi nhiễu vòng quanh bảo tháp hay vòng quanh chánh điện tại chùa trong các dịp lễ lớn. Hai tay buông thỏng, chạm nhẹ vào nhau, đặt trước thân, mắt hé nhìn xuống đất, miệng mỉm cười, tôi từ tốn cất bước theo nhịp đi chậm rãi bình thường của mình. Có những thiền sinh cử động thật chậm, để theo dõi từng động tác. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta phải tự thử nghiệm để chọn một nhịp đi thích hợp cho mình.

Chú tâm vào mỗi bước đi, ghi nhận từng cảm giác khi bàn chân chạm mặt đất, chân phải rồi chân trái. Cảm giác khi bàn chân vừa chạm đất, khi trọng lượng toàn thân đè lên bàn chân, khi bàn chân vừa nhấc lên ... rồi nhanh chóng đưa tâm sang ghi nhận bàn chân kia. Mỗi bước chân là một tiến trình mới lạ mà bạn chỉ đơn thuần ghi nhận, không đeo đuổi giải thích hay bình luận.

Sau một thời gian huân tập như thế, đôi khi bạn có thể có được một cảm giác an lạc, nhẹ nhàng bao trùm toàn thân trong lúc di chuyển. Cũng có lúc bạn có thể sẽ nhận thấy không có một "người" nào đang đi, mà chỉ có cử động bước đi nhịp nhàng và một sự nhận biết, lặng lẽ theo dõi các bước di chuyển đó. Các cảm nhận nầy xảy đến đột ngột, tự nhiên, rồi cũng tan biến đột ngột, tự nhiên. Bạn không nên bám víu, đeo đuổi chúng, mà cũng không nên mong cầu, vọng mống chi cả.

Khi tâm phóng đi lang thang, tôi nhẹ nhàng kéo nó lại, đưa nó về an trú trên bước chân. Đôi khi, tôi cũng áp dụng kỹ thuật niệm "Buddho" để giữ tâm. Khi bàn chân phải chạm đất, tôi niệm "Bút". Khi bàn chân trái chạm đất, tôi niệm "Thô". Bút ... phải; Thô ... trái; Bút ... phải; Thô ... trái; Bút ... Thô ... Bút ... Thô ... Bút ... Thô ... Tiếp tục như thế cho đến khi tâm tương đối ổn định, tôi bỏ niệm Buddho và quay về chú ý ghi nhận cảm giác của mỗi bước đi.

Thông thường, cứ đi khoảng 20 bước thì tôi đứng lại vài giây, ghi nhận cảm giác toàn thân trong tư thế đứng, rồi tiếp tục bước đi. Tôi thực tập như thế khi đi ba vòng quanh nhà, hoặc nhiều hơn nếu có thì giờ. Đi kinh hành giúp máu huyết lưu thông tốt, hít thở không khí trong lành ngoài trời, giúp gia tăng tâm chánh niệm khi thân thể chuyển động trong từng bước đi, huân tập cho tâm không bị chi phối bởi ngoại cảnh, bởi tiếng động lao xao của đời sống ngoài trời.

Thiền trong đời sống

Chúng ta vẫn có thể áp dụng nguyên tắc quán niệm hơi thở trong sinh hoạt hằng ngày, khi ngồi chờ tại trạm xe buýt hay xe lửa, chờ đợi ở sân bay, chờ đợi người thân khi đi mua sắm, khi là hành khách ngồi trong xe ô tô hay máy bay trong các chuyến du hành đây đó. Thay vì có tâm trạng háo hức, bồn chồn, sốt ruột, hay tìm sự lãng quên bằng cách đọc sách báo thời sự, nghe nhạc, hoặc tìm cách trò chuyện với người chung quanh, chúng ta vẫn có thể khép mắt lại, nhẹ nhàng theo dõi hơi thở của mình, để tâm được lắng dịu, nghỉ ngơi.

Tôi làm việc tại một văn phòng ở trung tâm thành phố, và nơi đó có vài ngôi nhà thờ cổ kính của Ky-tô giáo. Thỉnh thoảng, vào giờ nghỉ trưa, tôi vào nhà thờ, ngồi yên lặng, khép mắt, và để tâm theo dõi hơi thở khoảng 10, 15 phút. Ngoài kia là những khách bộ hành đi ăn trưa hoặc mua sắm, nhộn nhịp, uyên náo. Trong này là cả một bầu không khí an tĩnh, trang nghiêm; quả thật là một ốc đảo tươi mát để tâm được nghỉ ngơi sau nhiều giờ căng thẳng suy nghĩ trong lúc làm việc. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể áp dụng tinh thần thiền hành, chú tâm vào mỗi bước chân, khi ta đi bộ đến sở làm hay rảo bước nhịp nhàng, thong thả đến một nơi nào đó.

Ngay cả trong những lúc bực bội, buồn giận, hoặc chán nản về một sự cố, một vấn đề nào đó, tôi thường cố gắng kiểm soát tâm, không cho có phản ứng tức thời, mà chỉ dừng tâm lại, đem tâm theo dõi hơi thở, thở vào, thở ra, trong vài giây. Tự nhiên, tôi cảm thấy an định hơn, các cảm xúc nặng nề khi nãy giờ đây đã biến mất, và tôi có một cái nhìn, một phản ứng, một thái độ bình tĩnh, từ tốn, xây dựng, hòa ái hơn.


*

Dần dần, tôi thấy rằng tất cả những cố gắng đơn giản và nhỏ nhoi như thế thật ra đã giúp tôi rất nhiều, để đem tâm an định nhanh hơn trong các buổi thiền tập tại nhà và trong các khóa thiền ẩn cư. Tôi cảm thấy bình thản hơn, khi phải trực diện đối phó với nhiều vấn đề khó khăn trong cuộc sống. So với ngày xưa, trước khi tôi bắt đầu tập hành thiền, đời sống gia đình chúng tôi ngày nay tương đối an hòa và hạnh phúc hơn. Cuộc sống trở nên đơn giản, giảm thiểu các nhu cầu không cần thiết, và vì thế, ít căng thẳng. Tôi có nhiều thì giờ hơn để tham gia đóng góp Phật sự và các công tác từ thiện xã hội. Dĩ nhiên là con đường đưa đến giải thoát tối hậu còn nhiều thử thách và đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn thế nữa, nhưng ít ra, tôi tin rằng tôi đã đi đúng đường, và tôi đang gặt hát được những lợi lạc quý báu cho bản thân và cho những người chung quanh.


Bình Anson trích dịch,
Tây Úc, tháng 4-2005


-ooOoo-

Zen

 

PHƯƠNG PHÁP QUÉT TOÀN THÂN
 
Ngồi yên lặng ở một tư thế vững chãi. Đưa sự chú ý của bạn lên đỉnh đầu. Hãy kinh nghiệm bất kỳ cảm giác nào sinh khởi, chẳng hạn như hơi ấm, cái ngứa, sự râm ran, tiếng ù ù, v.v. (hoặc không có cảm giác gì rõ rệt). Chú ý tại đấy trong vài giây, sau đó chuyển dần sự chú ý ra phía sau đầu, lại lần nữa tiếp tục ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có mặt. Tiếp tục di chuyển sự chú ý khắp cơ thể, từng phần một, xuống tới bàn chân. Bất cứ chỗ nào có căng thẳng hoặc đau nhức thì hướng tâm đến khu vực đó nhiều hơn. Nếu bạn thấy phương pháp quét này có ích cho sự định tâm và tỉnh giác, bạn có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc quét theo chiều đi xuống và đi lên trên cơ thể vài lần như vậy. Bạn có thể thử nghiệm phương pháp này, chẳng hạn như tốc độ quét hay phạm vi khu vực bạn chú tâm đến, xem như thế nào là phù hợp nhất với mình. Mục đích của bài tập này là để phát triển định tâm và tỉnh giác trên thân.
 --
http://budsas.net/dlpp/bai55/index.htm

Thày chùa lửa và kẻ trí


1.
Kẻ phàm phu viết:

Tìm được vài phút rảnh
Hôm nay đi vào room
Của tên thày chùa lửa

Gặp tên ác tăng già

Thoáng thấy ta xuất hiện
Ác tăng vội chạy trốn
Cùng với bọn ma dơi
Già trẻ lố lăng nhớp!

Chỉ là trên màn ảo
Mà chúng còn như thế
Huống chi ở dưới đất
Nhố nhăng biết chừng nào!

Tởm!

2.
Kẻ trí suy nghĩ khác:

Đừng nên chỉ thấy cảnh
Mà hãy nhìn tâm mình
Cảnh sinh ra có lý
Nó xảy ra như thế

Thấy cảnh cứ thấy rỏ
Tâm đừng xen vào cảnh
Chúng sanh và tự nhiên
Giữ tâm vẫn bình an!

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền!

3.
Hãy nghĩ như người trí!

ĐỗNguyễn

Saturday, 6 June 2015

Nghe Ngộ ngêu ngao







Ngêu ngao nghe Viên Minh
Nghe he nói ít chuyện
Về cái thấy hiện tại
Về cái hoàn hảo này!

Em ở đây bên anh
Trong suy nghĩ chung tình
Như em vừa trỡ vế
Đến đi trọn vẹn sống!

ĐỗNguyễn


Mùa hè đang về rồi
Anh đã thông Balkon
Như vậy thêm 6 m2
Có thể ra phơi đồ

ĐỗNguyễn

Friday, 5 June 2015

imagine cho Ngộ

imagine


Imagine


Imagine there's no heaven
It's easy if you try
No hell below us
Above us only sky
Imagine all the people living for today
Imagine there's no countries
It isn't hard to do
Nothing to kill or die for
And no religion too
Imagine all the people living life in peace
You may say I'm a dreamer,
but I'm not the only one
I hope some day you'll join us
And the world will be as one
Imagine no possessions
I wonder if you can
No need for greed or hunger
A brotherhood of man
Imagine all the people sharing all the world
You may say I'm a dreamer,
but I'm not the only one
I hope some day you'll join us
And the world will live as one

Di dam tang cua Me anh Cong

 Ru ta ngam ngui, QD


Ngày mai hẹn với Nhân
Cùng đi về Marbach
Để cùng dự đám tang
Của mẹ của bạn Công

Bác gái nét hiền hòa
Bác trai thì tháo vác
Bây giờ người đàn bà
Ra đi, ông còn lại

Ôi vô thường thế gian
Có sinh rồi lại diệt
Thương nhau đi ôm nhau
Dù ngày mai chia tay..

ĐỗNguyễn

Thursday, 4 June 2015

Làm thơ để làm gì
cũng không cần phải biết
Vậy thôi

ĐN

Phan quynh Tram, nha tho tre o Uc

Khuon mat viet

Ngo thuong,

Hom nay gap em tren room, ben nay, anh dang mo room nen khong chao hoi chi duoc..
Hoi sang, anh co goi dong Chat chuc sinh nhat cua em do.. Hy vong em cam thay thich.
Hom nay, gioi thieu voi Ngo 1 tai nang o Uc. Mot nha tho tre, ma anh biet qua mang tienve.org.
Khi nao ranh, ghe qua room cua anh. Anh co add admin cho 2 nick cua em roi do. Hihi
DoNguyen

Tình bạn quanh một quả táo – Phan Quỳnh Trâm

Có nhiều câu chuyện thú vị về tình bạn giữa Gertrude Stein và Picasso nhưng có một câu chuyện tôi đặc biệt thích và nhớ mãi.
Trong các anh chị em trong nhà, Gertrude Stein gần gũi thân thiết nhất với Leo Stein, người anh kế. Cả hai đều thông minh nhạy bén và có cùng một đam mê sưu tập tranh. Từ 1903 đến 1914 hai anh em sống chung với nhau ở căn hộ 2 tầng 27 rue de Fleurus ở gần vườn Luxembourg và cùng nhau sưu tập nhiều tranh có giá trị của Cézanne, Renoir, Gauguin, Manet, Toulouse-Lautrec, Matisste, Picasso và nhiều hoạ sĩ đương đại thời đó.
Quan hệ giữa hai anh em bắt đầu trục trặc kể từ khi Alice Toklas (người “vợ” đồng tính của Gertrude Stein) dọn vào sống chung vào năm 1909. Nhiều tài liệu cho rằng Leo Stein không thích Toklas. Sự rạn nứt trong tình anh em còn xuất phát từ một lý do khác, có tính nghệ thuật: Cùng năm đó, Picasso bắt đầu thử nghiệm cách vẽ lập thể; trong khi Gertrude Stein vô cùng hứng thú với nó và áp dụng lối viết lập thể trong tác phẩm của mình thì Leo Stein lại không chịu nổi sự thay đổi đó ở cả Picasso lẫn Gertrude Stein. Picasso và Gertrude Stein càng trở nên thân thiết và cùng bắt đầu có tên tuổi thì Leo Stein lại được xem như một hoạ sĩ thất bại.
Năm 1914, Leo Stein dọn ra khỏi căn hộ ở rue de Fleurus để sang Florence – Ý sinh sống. Việc phân chia các bức tranh mua chung làm cho quan hệ giữa hai anh em hoàn toàn sụp đổ đến nổi suốt hơn 30 năm sau đó họ không hề gặp nhau. Leo Stein giữ những bức tranh của Renoir và để lại tất cả tranh Picasso cho Gertrude Stein (trừ những bức phác hoạ Picasso vẽ cho Leo Stein). Nói chung, Gertrude Stein đồng ý với sự phân chia đó bởi bà cũng chẳng mặn mà gì với Renoir. Bà chỉ buồn và tiếc nuối khi Leo Stein giành giữ bức 5 quả táo của Cézanne, mặc dù Leo đã để lại cho Gertrude tất cả những bức Cézanne còn lại.
Cezanne-Apples2
Paul Cézanne, Five Apples, 1877-78
Picasso chứng kiến nỗi buồn của Gertrude Stein khi mất bức tranh mà bà rất yêu thích. Ông âm thầm vẽ bức Quả táo (1914) và đem đến tặng Gertrude Stein trong dịp Giáng Sinh, như một cách đền bù cho bức 5 Quả táo của Cézanne.
Đây, quả táo trơ trọi của Picasso:
FullSizeRender
Pablo Picasso, Apple, 1914
Thành thật mà nói, so với nhiều bức tranh khác của Cézanne và Picasso, tôi không thật sự thích cả hai bức tranh này, dù 5 quả hay 1 quả, nhưng tôi thật sự thích câu chuyện này về tình bạn giữa Picasso và Gertrude Stein. Nó thật dễ thương và cảm động.
Tài liệu tham khảo:
1. The Steins Collect. Matisse, Picasso, and the Parisian Avant-Garde, do Janet Bishop, Cécile Debray và Rebecca Rabinow biên tập (2012), San Francisco MOMA phối hợp với Yale University Press xuất bản.
2. Gertrude Stein, writings and lectures 1911-1945, Patricia Meyerowitz biên tập và Elizabeth Sprigge giới thiệu (1967), Peter Owen xuất bản.

--

 nguon: http://phanquynhtram.com/

Wednesday, 3 June 2015

Happy birthday to you, Ngộ thương!

 Vẫn có em
 
Ngộ thương,
 
Chợt nhớ hôm nay Ngộ có sinh nhật, anh chúc mừng sinh nhật của Ngộ, người anh yêu qúy nhất trên đời!
Mong Ngộ hạnh phúc mùa sinh nhật!

Mừng ngày sinh nhật Ngộ

Nhớ em có sinh nhật
Anh gởi em vài dòng
Nhớ em mong em khoẻ
Đẹp vui và ngủ được!

Nhớ về tiếng còi tàu
Mùa đông cảng thành phố
Mà anh từng mơ ưóc
Bên em nhìn con tàu!

Còi tàu còn chờ anh
Trong tâm tưởng đã thấy
Con tàu và dáng nàng
Mãi trọn đời trong ta!

Mit liebe!
ĐỗNguyễn


Tuesday, 2 June 2015

Chợ


 Dưới mái trường


Tỉnh dậy nhìn đồng hồ
Còn 10 phút nửa thôi
Quyết định mau ra chợ
Vừa kịp mua thức ăn

Mua bột giặt và nước
Món wurst đang thèm nửa
Bánh mì sửa và chips
Vậy là xong, đi về

Đi đâu cũng nghĩ vế
Người con gái ở xa
Mong em ngủ được nhé
Dù lòng trách em nhiều!

ĐỗNguyễn

Giới rửa chén

học sinh việt


Hôm nay rửa chén xong rồi
Giới bếp anh giữ bồi hồi về đây
Nhìn ai có ghé blog không
Vẫn chưa thấy Ngộ mãi trông chưa vào

Trong room có vài bạn bè
Anh Nhân mới gọi hàn huyên tiêu sầu
Chuyện Nhật bản chuyện Việt Nam
Thật mừng còn có những người như anh

Biết quý những lúc bạn còn
Ngồi nghe bình luận chuyện hay xa rồi
Bây giờ trỡ lại Thụy Khê
Bình thơ Nguyễn Bính mông mênh nhớ nàng

ĐỗNguyễn


Trang va Cap

Junge Dame mit Hut


Ben ni trang dep qua
Muon tat den phong de thay trang ro hon
Nhin anh Cap vang lai
Nhu anh trang di tu tay qua dong

Nguyet lai vi tuyet tran
Da dang kien nguyet lai
Kien quan thuong lai vang
Nhu nguyet chuyen dong vien tay

ĐỗNguyễn

Hồi đầu thị Ngộ


 Hoa kèn




Hồi đầu thị ngạn
Soi chiếu tự tại
Nguyệt lai thời nhàn
Nguyệt lạc lí tự nhiên
Bất khổ thường lạc
ĐỗNguyễn

Monday, 1 June 2015

Đương xứ tức chân đó
ngày nay êm trôi đi
Dù không thấy Ngộ vào
Trong tâm anh còn Ngộ
Há sao không có được!

ĐỗNguyễn

Rahula 10 điểm

HT Rahula


CÁC ĐIỂM CĂN BẢN HỢP NHẤT NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG
Hòa thượng Walpola Rahula (1981)
Bình Anson dịch
*
Các điểm căn bản hợp nhất Nam tông và Bắc tông là một văn bản Phật giáo toàn cầu quan trọng, soạn ra vào năm 1967 trong Hội nghị thứ Nhất của Hội đồng Tăng-già Thế giới (World Buddhist Sangha Council) tại Colombo, Sri Lanka [*]. Hòa thượng Pandita Pimbure Sorata, Tổng thư ký đầu tiên của Hội đồng, yêu cầu Hòa thượng Walpola Rahula soạn một văn bản gồm các công thức rõ ràng để hợp nhất các truyền thống Phật giáo. Văn bản nầy được đệ trình lên Hội đồng và được Hội đồng nhất trí chấp thuận.
Vào năm 1981, Hòa thượng Walpola Rahula khai triển thêm, thành 10 điểm như sau:
*
1) Dù thuộc về bất cứ tông phái hay hệ phái nào, là Phật tử, chúng tôi đều quy kính Đức Phật là vị Thầy đã truyền dạy chúng tôi.
2) Chúng tôi đều tìm nơi nương tựa ở Tam Bảo: Đức Phật, Giáo Pháp của Ngài, và Tăng đoàn là cộng đồng chư vị thánh tăng.
3) Dù là Nam tông hay Bắc tông, chúng tôi đều không chấp nhận có một Thượng đế tạo ra và cai quản thế giới này.
4) Noi gương Đức Phật, vị Thầy của chúng tôi, hiện thân của Đại Bi và Đại Trí, chúng tôi xem ý nghĩa của cuộc sống là phát triển lòng Từ bi cho mọi chúng sinh không phân biệt, và hành động để mang lại lợi ích, hạnh phúc, và hòa bình cho tất cả; đồng thời phát triển Trí tuệ đưa đến thực chứng Chân lý Tối hậu.
5) Chúng tôi chấp nhận Tứ diệu đế. Đó là Khổ, sự hiện hữu của chúng ta trên thế gian là vô thường, bất toàn, bất toại ý, và đầy xung đột; Tập, nguyên nhân của tình trạng này là từ lòng vị kỷ dựa trên ảo tưởng về ngã; Diệt, sự giải thoát ra khỏi tình trạng này bằng cách diệt trừ lòng ích kỷ vị ngã; và Đạo, con đường có tám yếu tố, tiến đến toàn thiện về Giới, Định, Tuệ.
6) Chúng tôi chấp nhận nguyên lý phổ quát về nhân quả như đã giảng trong lý Duyên sinh, và từ đó, chấp nhận rằng mọi việc đều tương đối, liên hệ với nhau, và không có gì là tuyệt đối, thường hằng trong thế giới này.
7) Chúng tôi hiểu rằng, theo lời Phật dạy, tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, bất toàn và khổ phiền, và tất cả các pháp hữu vi và vô vi đều vô ngã.
8) Chúng tôi chấp nhập ba mươi bảy phần bồ-đề là những dạng thái khác nhau của Con đường đưa đến Giác ngộ, như Đức Phật đã dạy. Đó là: tứ chánh cần, tứ niệm xứ, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, và bát chi thánh đạo.
9) Có ba phương cách để đạt Giác ngộ tùy theo khả năng và căn duyên của mỗi cá nhân: như là vị đệ tử Thanh văn, như là vị Phật độc giác, và như là vị Phật Chánh đẳng giác. Chúng tôi công nhận con đường cao quý nhất là con đường của Bồ-tát tiến đến quả vị Phật Chánh đẳng giác để cứu độ chúng sinh. Ba dạng thức này đều cùng chung một con đường giải thoát, không phải là những con đường khác nhau.
10) Chúng tôi ghi nhận có những sự khác biệt tại các quốc độ khác nhau về đường lối sinh hoạt của Tăng đoàn, niềm tin và thực hành của đại chúng, các nghi lễ, nghi thức, phong tục, tập quán. Tuy nhiên, đây chỉ là những hình thức biểu lộ bên ngoài, không nên lẫn lộn với những lời dạy tinh yếu của Đức Phật.
-------------------------
[*] Hội nghị Thứ nhất gồm đại diện Tăng-già của Sri Lanka, Ấn Độ, Pakistan, Tây Tạng, Việt Nam, Malaysia, Đài Loan, Hồng Kông, Nepal, Campuchia, Thái Lan, Lào, Miến Điện, Singapore, và Anh Quốc. Hòa thượng Thích Tâm Châu, đại diện Phật giáo Việt Nam, là thành viên sáng lập của Hội đồng Tăng-già Thế giới (World Buddhist Sangha Council). Hội nghị thứ Hai tổ chức tại Sài Gòn và Đà Lạt vào năm 1969. Hiện nay, Hội đồng Tăng-già đặt trụ sở tại Đài Loan. -- xem thêm: http://wbsc886.org/Enlish/E-index2/E-index.html

Sunday, 31 May 2015

Giải kiến trúc cua Hyatt Foundation năm 2015

Olympia, München, Frei Otto/ Nguồn Wiki

Cuối cùng thì KTS Frei Otto đã được chọn để nhận giải Pritzker năm 2015.
Anh có dịp gặp Otto trong thời gian ở Uni Stuttgart. Có lẽ nhờ Otto mà Uni Stuttgart từ lâu nổi tiếng là Uni có phân khoa kiến trúc sáng giá nhất.
Frei Otto là giáo sư kiến trúc của đại học Stuttgart. Institut của Otto nằm ở Vaihingen..



Support pillars of a six-angle gridshell in the Kings Office, Council of Ministers, Majlis al Shura, Riyadh, Saudi Arabia, 1979 (Rolf Gutbrod, Frei Otto, Büro Happold, Ove Arup and Partner)
 

--
Xem thêm:
http://www.archdaily.com/tag/pritzker-prize/
Hôm qua mua sách cũ
Ba mươi cuốn cuối cùng
Vì tiệm sách sẽ đóng
Sau hai mươi năm bán!

ĐỗNguyễn