Monday, 6 April 2015

Gởi Ngộ bài về Huế và Sông Hương


Xuôi dòng Hương Giang

Nguyễn Văn Liêm


Phần 1 - Ngã ba Bằng Lãng


Sông Hương không chỉ là một vẻ đẹp hoàn mỹ mà tạo hoá đã ban cho Huế mà nó còn là một dòng sông huyền thoại ẩn chứa nhiều điều về mảnh đất Cố Đô xưa.
Từ Ngã Ba Tuần về đến phố cổ Bao Vinh, sông Hương là trục chính của đô thị Huế, là thế phong thủy vững bền cho các vua nhà Nguyễn định đô bởi có thế “tả Thanh Long”, “hữu Bạch Hổ” được tạo nên từ hai cồn đất nổi ở giữa sông là cồn Hến và cồn Dả Viên trấn yểm ở hai đầu đoạn sông chảy qua trước cửa Hoàng thành.
Nếu có dịp đến Huế, bạn hãy xuôi dòng Hương Giang để tận hưởng chút không khí trong lành và yên tĩnh trên dòng sông thơ mộng. Những chiếc thuyền lặng lờ trôi theo dòng nước biếc, nắng trải vàng như mật khiến cho dòng sông lung linh như được dát vàng. Trước mặt bạn, những xóm làng, chùa chiền, đình đền miếu mạo, lăng tẩm, thành quách… trên đôi bờ Sông Hương bất chợt hiện ra. Tất cả những thứ đó như minh chứng cho một thời vàng son đáng nhớ của dòng sông đầy huyền thoại này.
Đó là những gì bạn sẽ cảm nhận được khi đến Huế, còn bây giờ mời bạn hay lên thuyền của tôi, cùng tôi xuôi dòng Hương Giang nhé, bắt đầu từ ngã ba Bằng Lãng ngoạn mục nhé:





Ngã ba Bằng Lãng (còn gọi là ngã ba Tuần) là ngã ba sông rất nổi tiếng ở Huế, nơi hợp lưu của dòng tả trạch chảy từ vùng núi trung bình huyện Nam Đông với độ cao tuyệt đối 900m và dòng hữu trạch từ thượng ngàn A Lưới đổ xuống để tạo thành sông Hương. Nơi đây ngày xưa vốn là nơi đóng quân bảo vệ phía tây kinh thành Huế, là nơi lực lượng tuần hà khám xét và thu thuế các thuyền bè chở sản vật từ thượng nguồn sông Hương về kinh thành cho nên gọi là bến đò Tuần ("tuần"có nghĩa là đi canh gác). Từ xa xưa đây đã thành hình tụ hội cư dân về lập ấp, dựng nghiệp là dấu hiệu mở đầu của một sức sống tiềm tàng mà dòng Hương sẵn lòng mang lại cho đôi bờ phố thị của chốn Kinh đô. Từ bến Tuần có đò ngang sang làng Hải Cát (dân gian gọi là sang Trẹm) và lăng Minh Mạng (sang làng La Khê bãi) cho nên còn gọi là đò ba bến (theo một đường tam giác).


“Còn mặt trời thì chớ
Tắt mặt trời dạ thiếp nhớ bâng khuâng
Trời mấy bữa ni mưa mô gió nấy, đò Tuần không đưa (hò)”


Mặt nước trong vắt nơi đây lặng lờ giây lát như còn bịn rịn lời giai duyên, nguyện ước. Tương truyền rằng, xưa vua Minh Mạng ngự thuyền qua, nhìn cảnh trí non, nước, mây trời tuyệt đẹp đã rung động cảm tác :


”Một thước nước in trời
Đò ai chiếc lá khơi
Non cao xem vòi vọi
Dòng biếc thấy vơi vơi...”


Bên cạnh bến đò Tuần, ngày trước nơi đây còn có bến phà Tuần, hàng ngày những con phà cần mẫn đưa khách và ô tô sang sông để lên địa bàn huyện A Luới, là con đường duy nhất nối liền thành phố với A Lưới và cửa ngõ sang Lào.
Với gia đình tôi, bến đò Tuần cũng gắn nhiều kỷ niệm, bởi lẽ cô em gái sau khi ra trường đã về nơi đây dạy học và bén duyên ở đó. Ngày rước dâu, đoàn xe dâu phải ngừng lại bên bến đò Tuần để nhường chỗ cho những chiếc thuyền dâu qua sông. Với mọi người đó là một đám rước dâu thú vị, thế nhưng với bố tôi lúc đó, nhìn cảnh con gái về nhà chồng cách trở đò giang đã ngậm ngùi rơi lệ.
Trận lũ tháng 11 năm 1999, trận lũ chưa từng có ở Huế đã làm nơi đây trở nên điêu đứng, tan hoang. Sau một đêm mưa suốt, sấm sét ầm ĩ trên bầu trời đen kịt, đến khoảng nửa đêm 1/11/1999 thì cả hai dòng nước lũ (tả và hữu trạch) đã nhập thành một biển nước mênh mông, nhấn chìm tất cả. Toàn bộ Làng Bằng Lãng chỉ còn thấy ngọn đồi và tượng Phật Bà Quan Âm. Cả làng đã kịp chạy lên trên ngọn đồi Phật Bà và tầng lầu của trường cấp II, nhưng chỉ chạy được người, còn toàn bộ tài sản đều trôi sạch. Bốn ngày sau khi nước lũ bắt đầu rút, chiếc ca nô của bộ đội biên phòng mang theo mì gói lên, cả làng ùa xuống với những cánh tay đói lả. Một cụ già vừa nhận được gói mì đã xé toạc giấy gói nhai ngấu nghiến. Hình ảnh đó được VTV truyền đi khiến đồng bào cả nước đau thắt ruột.





Năm ấy tôi đang công tác ở Sài Gòn, mọi thông tin liên lạc về Huế đều bị cắt đứt, cả bốn anh em chúng tôi chỉ biết ngóng chờ từng bản tin thời sự của đài truyền hình. Hàng ngày nhìn thấy quê hương ngập chìm trong nước, nhà cửa ngổn ngang, cảnh tang tóc khắp nơi, không ai cầm được nước mắt. Mấy ngày sau khi nước lũ bắt đầu rút, gia đình tôi vẫn không thể liên lạc với bên kia sông, chỉ biết hàng ngày đứng bên bến đò Tuần mà ngóng sang. Hết một tuần liền cô em gái và cháu ngoại mới tìm cách sang sông về đến thành phố, câu đầu tiên đứa cháu nói là “Ngoại ơi, đói quá!”.




Tượng Phật bà Quan Âm trên đỉnh đồi Tứ Tượng, nơi cao nhất mà mọi người vẫn kéo lên tránh lũ khi nước dâng cao


Sau biến cố lịch sử đó, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định xây cầu phía hạ lưu chợ Tuần, bắc qua sông Hương gần lăng Minh Mạng, ở trên trục đường vành đai thành phố, gọi là đường tránh Huế, ở phía bắc giao với QL1A tại thị trấn Tứ Hạ và điểm phía nam hòa trở lại với QL1A tại địa bàn thị xã Hương Thủy. Đây là con đường vòng phía ngoài thành phố Huế, nhằm giảm tải các xe qua thành phố Huế, vừa là con đường chạy qua các vùng đất có địa hình cao ở phía tây thành phố, không bị ngập lụt, bảo đảm cho giao thông thông suốt trong những ngày mưa lũ của Huế. Cây cầu Tuần được hoàn thành vào năm 2003.





Sau khi cây cầu đẫ xây dựng nên, có nhiều ý kiến lại cho rằng nó phá vỡ đi cảnh quang của vùng thượng nguồn sông Hương, cảnh quang của Lăng Minh Mạng vì nó quá gần lăng. Riêng tôi, lại không nghĩ như vậy, liệu những người đó sẽ nói gì khi chứng kiến hàng trăm người dân mắc kẹt giữa cơn lũ, bị chia cắt, đói lả, dù nơi đó chỉ cách thành phố có 10km. Với người dân vùng đất bãi, cây cầu là ước mơ ngàn đời của họ. Ngày khánh thành, tôi được nghe kể lại có nhiều cụ già bắt con cháu phải dẫn mình đến để đặt chân lên được cây cầu mới, “ngắm cho đã rồi có chết cũng sướng”.




Từ cầu Tuần nhìn về phía hạ lưu sông Hương


Phần 2 - Linh thiêng Điện Hòn Chén


Tiếp tục xuôi dòng sông Hương, thấp thoáng giữa những rừng cây xanh um trải dài từ chân đến đỉnh ngọn núi Ngọc Trản và bình yên soi bóng bên dòng sông Hương trong xanh huyền thoại là điện Hòn Chén, một di tích tôn giáo và danh thắng nổi tiếng thuộc quần thể di tích cố đô Huế, nằm trên địa bàn làng Hải Cát, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà.



Điện Hòn Chén nằm sát bờ sông Hương

Núi Ngọc Trản xưa có tên là Hương Uyển Sơn. Trên đỉnh núi có một chỗ đất trũng xuống, đường kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng như bờ giếng, hễ gặp mưa thì nước đọng lại trông như cái chén đựng nước trong. Cho nên từ đó, hòn núi được đặt tên Ngọc Trản (núi Chén Ngọc) và dân gian thường gọi là Hòn Chén. Cũng vì vậy, người ta quen gọi ngôi điện thờ Thánh mẫu tọa lạc giữa lưng chừng núi là điện Hòn Chén.
Không biết ngôi đền thờ ở Ngọc Trản Sơn có tự bao giờ, chỉ biết rằng người Chăm xưa từng thờ cúng nữ thần Po Nagar (Nữ Thần Mẹ xứ sở) ở núi này. Theo truyền thuyết dân gian Chăm, nữ thần Po Nagar là con của Ngọc hoàng Thượng đế được sai xuống trần gian, bà có công lao tạo ra trái đất và các loại gỗ trầm, lúa gạo. Sau khi tiếp nhận từ người Chăm một di tích tôn giáo độc đáo như điện Hòn Chén, đến thời nhà Nguyễn, các vua, chúa tiếp tục tu sửa, mở rộng đền. Và để ký âm cho danh từ Po Nagar bằng Hán văn, các Nho sĩ ngày xưa đã phải tạo ra một âm hưởng hao hao và mang một ý nghĩa tương đương nhất định bằng bốn chữ Hán: Thiên Y A Na. Từ đó tục thờ Thánh Mẫu Thiên Yana với những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc sâu xa là tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo, cũng như ở miền bắc thờ Mẫu Vân Hương, hay ở miền nam thờ Mẫu ở núi Bà Đen, hoặc Pohnaga ở Tháp Chàm - Nha Trang.








Mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi đền không rộng, gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là Nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, Chùa Thánh; bên trái là Dinh Ngũ Vị Thánh Bà; bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ – con cọp), Am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là Am Thủy Phủ. Trên mặt bằng kiến trúc ấy, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như Am Cô Ngọc Lan, Am Trung Thiên… Liễu Hạnh Công Chúa, tức là Vân Hương Thánh Mẫu cũng được đưa vào thờ ở đây. Ngoài ra, tại điện Hòn Chén, người ta còn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 vị thần thánh khác thuộc vào hàng đồ đệ của các thánh thần nói trên. Vua Ðồng Khánh cũng là một trong những đồ đệ ấy. Như vậy, xét về mặt tín ngưỡng, điện Hòn Chén bối cục thờ không theo nguyên tắc, mà phối thờ nhiều tín ngưỡng khác nhau.




Khoảng 10 công trình kiến trúc xinh xắn của ngôi đền đều nằm ở lưng chừng sườn đông nam thoai thoải của ngọn núi, ẩn mình dưới bóng dâm của một khóm rừng cổ thụ tán lá xum xuê. Những hệ thống bậc cấp chạy từ đền cao xuống tận bến nước trong xanh. Mặt sông phẳng lặng như gương, được dùng cho toàn cảnh thiên nhiên và kiến trúc nghiêng mình soi bóng. Dù thuyền cập bến, đứng nhìn lên, khách dễ tưởng mình đang lạc vào chốn thần tiên.




Trong quần thể di tích cố đô Huế, có lẽ điện Hòn Chén gắn với nhiều giai thoại nhất. Dân gian còn lưu truyền rằng điện Hòn Chén xưa có tên là Hoàn Chén với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”, vì vua Minh Mạng trong một lần lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng Hương, tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua! Trước điện là một cái vực rất sâu chưa ai đo được. Xưa kia, lắm người chài ngư nổi danh bơi lội cũng không lặn tới đáy sông được. Người ta tin rằng, vua Hà Bá ngự trị ở chốn này. Ghe thuyền mỗi khi đi qua đều im hơi lặng tiếng để tỏ lòng thành kính. Tương truyền nhiều người bị đắm thuyền chết đuối chỉ vì đã ngạo mạn với Mẫu thần. Nơi đáy vực có con ba ba to bằng chiếc chiếu rộng, mỗi lần nổi lên thường gây sóng gió dữ dội, mọi người lúc bây giờ đều tin đó là sứ giả của thần Hà Bá. Thấy dân chúng bị nạn, trong một buổi cúng tế, vua Tự Đức đã đeo vào tay thần một chuỗi bồ đề để cầu xin lòng từ bi cho chúng sanh. Người ta còn kể rằng, trong một hốc đá ở bợt bến, có một con cá trạch lớn như chiếc chiếu, thỉnh thoảng vụt lên mặt nước làm tung bọt trắng xóa. Dân chúng hoảng hốt sợ, không dám gọi là "con" mà gọi bằng "cố"- Cố trạch.
Trong số mười ba vị vua triều Nguyễn thì vua Đồng Khánh là một tín đồ rất ngưỡng mộ vị Thánh Mẫu này. Từ năm 1883 đến năm 1885, vì gặp một giai đoạn éo le của lịch sử triều Nguyễn, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên nối ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên đền Ngọc Trản cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Yana xem mình có làm vua được không. Theo một số người kể lại thì thần Thiên Yana đã cho hoàng tử biết ngày đăng quang và cũng cho biết ông chỉ ở ngôi được 3 năm rồi mất.
Quả nhiên lời tiên đoán của nữ thần điện Hòn Chén thật đúng, bởi vậy sau khi lên ngôi vào năm 1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ khí tự để thờ và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu. Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam. Từ đó vua Đồng Khánh rất tin tưởng về sự linh ứng của nữ thần Điện Hòn Chén; gặp việc gì khó xử ông thường đến đây để cầu đảo và dường như việc gì cũng được như ý nên vua Đồng Khánh đã phê rằng: “Điện Hòn Chén là một đền linh diệu thiên cổ, thế núi trông thật giống hình con sư tử uống nước dưới sông, quả là chân cảnh thần tiên, cứu đời, giúp người nhiều lắm”. Tháng 6, 7 năm 1886 tại Huế không có một giọt mưa, vua bèn sai các quan ở Phủ Thừa Thiên lập đàn cầu đảo khắp các đền trong kinh thành nhưng trời vẫn không mưa, đến khi lên cầu đảo tại đền Hòn Chén, chỉ trong một buổi sáng thôi mà trời đổ mưa tầm tả, ai cũng cho là linh ứng. Cũng chính vì sự linh ứng ấy mà vua Đồng khánh rất lo sợ trước lời tiên đoán của Nữ Thần. Và rồi không cãi được mệnh trời, năm 1888, ông thọ bệnh, đau liên tục, các ngự y bó tay, đến năm 1889 thì ông mất, đúng sau 3 năm ngồi trên ngai vàng.
Vua Đồng Khánh còn làm thơ văn ca tụng công đức của Mẫu Thiên Yana. Hiện nay trong đền vẫn còn thờ vài bức tranh ảnh của chính nhà vua được treo ở đây. Chính vua đã ban hành việc dùng Quốc lễ để tế tại Huệ Nam Điện. Theo lệnh vua, vào dịp xuân - thu nhị kỳ hằng năm đều tổ chức tế lễ, vị chủ tế là một triều thần. Tại Huế vẫn truyền tụng câu ca “Tháng 7 Vía Cha, tháng ba Vía Mẹ” là nói đến 2 lễ tế này. Sau vua Đồng Khánh, các vị vua chỉ cử quan thần tới chủ tế một lần vào tháng ba, còn tháng bảy dân làng Hải Cát tự tổ chức. Nghi lễ tại Ðiện Hòn Chén rất long trọng. Dân làng tổ chức tế tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả các vị thần trong làng về đình. Ðám rước Thiên Yana Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát tổ chức trọng thể hơn cả.



Hàng vạn người đến tham gia lễ hội

Ðám rước cử hành trên những chiếc “bằng” (thuyền kết đôi), trên đó có bàn thờ Thánh Mẫu cùng với long kiệu, hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu, cờ phướn, hương án đủ màu sắc, hành hương về điện Hòn Chén, nơi thờ Thánh Mẫu. Tại khu vực điện sẽ diễn ra lễ Thánh Mẫu tuần du làng Hải Cát, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh, phóng đăng….
Long kiệu của Thánh Mẫu là kiệu thêu, do các trinh nữ ăn mặc sặc sỡ khiêng, còn các bà, người mang bình hương, ống trầu, bình trà, hòm đựng đồ trang sức, kẻ mang cờ, biển, tàn, lọng, gối, quạt… Các thanh niên thì vác các đồ lễ bộ, bát bửu và các tự khí khác. Ðám rước đầy màu sắc rực rỡ, không khí trang nghiêm. Khi đoàn ghé bến, đám rước chuyển từ sông lên bộ, đi cho đến đình làng Hải Cát, có phường bát âm đi sau kiệu. Phường bát âm với những bài hát chầu văn ca ngợi Thánh Mẫu và chư vị thánh thần. Các tín đồ vừa đi vừa hát, múa trên những chiếc bằng trong trang phục lộng lẫy, dưới lọng kiệu là đồ thờ của Mẫu Thiên Yana. Tất cả tạo nên một không khí tín ngưỡng thiêng liêng, huyền ảo và sôi động. Suốt đêm, trên mặt sông Hương và có khi ở trước đình làng là các cuộc hát thờ, hầu đồng, hầu bóng. Sáng ngày hôm sau là lễ chánh tế, tổ chức từ 02g – 05g00 sáng. Sau đó là lễ Tống thấn. Mặt sông Hương lại bùng lên với âm nhạc, pháo nổ tưng bừng, hàng trăm chiếc thuyền, bằng chen chúc, những bộ lễ phục rực rỡ.




Những năm gần đây, lễ hội Hòn Chén tấp nập, tưng bừng hơn. Vào ngày chính lễ có cả trăm chiếc thuyền, bằng trẩy hội trên dòng Hương, tín đồ của cả nước về tụ hội, dâng lễ, rước Mẫu, các tín đồ tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo lại có dịp trở về với Mẫu Thiên Yana với những sinh hoạt văn hóa dân gian tạo nên vẻ phong phú của nét văn hóa xứ Huế. Không chỉ dừng lại là một lễ hội văn hóa dân gian mà nó còn thu hút một lớn số lượng du khách trong nước lẫn nước ngoài, là sự pha trộn nhiều màu sắc tín ngưỡng và không biệt tín ngưỡng, đưa mọi người đến gần nhau hơn.
Điện Hòn Chén - là một trong mười sáu di tích được xếp hạng danh mục quần thể di tích Huế, di sản văn hóa thế giới. Đó cũng là ngôi điện duy nhất có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế và là ngôi điện duy nhất ở Huế có sự kết hợp giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng dân gian; giữa lễ hội và đồng bóng; giữa văn hóa tâm linh và mê tín dị đoan. Đến thăm thành phố Huế đúng dịp diễn ra lễ hội, xuôi thuyền ngược dòng Hương Giang đến núi Ngọc Trản, du khách sẽ được tham gia vào lễ tế điện Hòn Chén, tận mắt chứng kiến cái không khí linh thiêng, huyền ảo tại nơi này.


Phần 3 - Đồi Vọng cảnh


Dòng sông Hương sau khi hợp lưu hai dòng Tả Hữu Trạch ở ngã ba Bằng Lãng xuôi về hạ lưu được vài cây số thì va vào độn Bạc (người Huế gọi các ngọn đồi thấp là “độn”). Không xuyên qua được dãy đồi này theo hướng chảy, dòng sông đột ngột chuyển hướng theo một khúc gấp hình thước thợ. Chính ở nơi dòng sông chuyển hướng đó mà từ độn Bạc có đôi mắt nhìn lên cả một vùng phía Tây núi rừng trùng điệp, dòng sông lững lờ trôi, nhìn qua những vườn cây trái xanh tươi. Đứng trên đồi này, người ta có được một cái nhìn bao quát đối với nhiều di tích cổ kính và những cảnh đẹp tuyệt vời ở một không gian thiên nhiên rộng lớn chung quanh, đặc biệt nhất là vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của sông Hương. Ngọn đồi nằm giữa một khúc uốn mềm mại, dịu dàng và hấp dẫn nhất của dòng sông nổi tiếng đa tình và gợi cảm. Đây là nơi sông núi xích lại gần nhau để tạo ra một không gian sơn kỳ thủy tú. Cũng chính từ ý nghĩa đó, ngọn đồi này còn mang cái tên mỹ miều hơn so với tên gọi dân gian : Đồi Vọng Cảnh.




Dưới thời Pháp thuộc, địa danh Vọng Cảnh đã xuất hiện trên báo chí và sách viết về du lịch. Theo tiếng Pháp, Vọng Cảnh viết là Colline du Belvédère. Năm 1925 hai tác giả người Pháp là L.Gaide và H.Peyssonneux đã viết trong sách Prince Kiên Thái Vương (Hoàng thân Kiên Thái Vương) như sau: “Tại vùng này người ta còn đi lên một đỉnh đồi gọi là “le Belvédère” (đồi Vọng Cảnh), từ đỉnh đồi người ta có cái nhìn bao quát rất ngoạn mục về dòng sông, theo hướng đi lên lăng Minh Mạng và lăng Gia Long; về toàn núi non bao quanh Huế”. Năm 1935 Toà Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế cũng đã in một tập gấp ghi điểm tham quan này. Cụ Dương Đình Nguyên, một người gốc Huế năm nay đã 90 tuổi, ở phường Phú Cát, thành phố Huế cho biết: “Trước năm 1930 trên đồi này đã có đài Vọng Cảnh để du khách đến đó đứng ngắm cảnh”. Một cung đường và vườn hoa nhỏ đã được xây dựng trên đồi Vọng Cảnh, chếch về phía Nam đỉnh đồi.
Thông xanh được trồng nhiều trên đồi Vọng Cảnh và đây cũng là điểm du ngoạn của tuổi học trò. Thích thú nhất là được ngồi ở sườn đồi sát bờ sông, ngắm những con đò rẽ sóng nơi sông Hương lặng lẽ chuyển dòng, nghe vọng âm của gió, của nắng, của núi đồi, sông nước, của con tim yêu thương tuổi sắp sửa vào đời. Hai vợ chồng tôi từ lúc mới quen nhau, yêu nhau đã không ít lần đến đây, cùng ngôi bên nhau, ngắm một khoảng không gian trãi rộng phía trước, ngắm dòng sông Hương lấp loáng ánh bạc phía dưới mình, mà tuyệt vời nhất là những lúc hoàng hôn trên ngọn đồi này.




Năm 2005, Đồi Vọng cảnh bỗng dưng nổi tiếng khắp nơi, cả trong nước lẫn nước ngoài, khi người ta định tiến hành Dự án Life Resort Vọng Cảnh với số tiền 4,9 triệu USD. Dự án đã vấp phải nhiều ý kiến phản đối của người dân Huế, cả ở trong nước lẫn ngoài nước. Không ai muốn một địa điểm tuyệt đẹp như vậy bỗng dưng trở thành một “thị trấn du lịch nho nhỏ”, nó phá vỡ đi cảnh quan của dòng sông Hương thơ mộng, và sẽ làm ô nhiễm cả nguồn nước của nhà máy nước Vạn Niên cung cấp cho cả Thành phố nằm cách đó chỉ 300m.




Chiều nay dòng sông trở nên đục hơn ...

Với người dân Huế, Đồi Vọng Cảnh là một điểm ngắm địa đầu lý tưởng khung cảnh thiên nhiên của Huế, là một địa danh được người xưa xem là con mắt thần, là nơi hội tụ khí thiêng sông núi, là báu vật thiên nhiên ban tặng cho Huế. Nếu xét về phong thuỷ thì đó là trái tim của Hoàng long - nơi ẩn giữ tiềm tàng sinh khí của đất cố đô. Xét về văn hoá, đó là kỷ niệm gắn bó với hàng vạn lứa đôi, hàng chục vạn con người dạo bước từ nhiều đời nay. Xét về mặt cảnh quan, có thể nói ở đất nước Việt Nam, ít có một ngọn đồi nhỏ bé tương tự nào có vẻ đẹp làm say mê lòng người đến thế. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên, đồi Vọng Cảnh đã trở thành một phần không thể thiếu được của văn hoá Huế, cần thiết phải giữ gìn và xây dựng. Theo cụ Cao Đình Dương thì trước đây đã có đề nghị xây "Vọng Cảnh Lâu" cho cựu Hoàng Bảo đại trên Đồi Vọng Cảnh. Nhưng khi các vị lão thần thừa lệnh đến thắp nhang khấn vái phát quang, đã chạm phải một phiến đá có ghi hàng chữ: "Vọng Cảnh vong thân. Thất thần khiếm thị", nghĩa là nếu đồi Vọng Cảnh mất đi thì thần khí vùng đất này cũng không còn và tầm nhìn cảnh đẹp cũng mất đi. Cũng có sự giải thích theo nghĩa khác là nếu ai phá huỷ thì sẽ bị liên lụy điên khùng (thất thần) và đui mù (khiếm thị). Người đương thời có khuynh hướng giải thích theo ý thứ hai nên sợ hãi, xin bãi bỏ lệnh phát quang xây "Vọng Cảnh Lâu" từ đó. Tuy đây chỉ là chuyện tương truyền mang tính thần thoại, nhưng câu chuyện cũng nói lên được nỗi trân trọng và thiêng liêng của người dân Huế đối với địa danh này.
Chiều nay chúng tôi lại trở về với Đồi Vọng cảnh. So với ngày xưa rừng thông bây giờ đã cao hẳn lên. Vẫn còn đó những chiếc lô cốt sần sùi đen trũi theo thời gian, vết tích của những năm tháng chiến tranh. Tôi lặng nhìn dòng sông và thầm so sánh với khung cảnh của nhiều năm về trước. Thật đáng tiếc, chiều nay trước mắt tôi không có những con thuyền rẽ sóng, chỉ có một con đò cắm sào giữa dòng đang khai thác cát sạn, từ chỗ đó dòng sông trở nên đục hơn, không còn cái vẻ trong xanh vốn có của nó. Ước chi …
Bâng khuâng, tôi cố vớt vát bằng cách thu gọn cảnh hoàng hôn vào trong ống kính.




Hoàng hôn trên Đồi Vọng cảnh

Trong tâm thức người Huế, Vọng Cảnh luôn là một vùng nước non huyền thoại, là vùng ký ức của bao người xứ Huế, là vùng đất thiêng, một báu vật của đất cố đô mà các thế hệ cần phải giữ gìn, tôn tạo để Vọng Cảnh càng đẹp hơn trong dòng chảy của thiên nhiên, văn hóa và con người xứ Huế. Nếu bạn có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn, mới hiểu hết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên họa của một ngọn đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế.

Phần 4 - ghé thăm chùa Linh Mụ


Dòng Hương Giang sau khi thoát qua khỏi Đồi Vọng Cảnh và núi Ngọc Trản, bỗng trở nên chậm rãi, dòng sông mở rộng ra ôm lấy những bến bãi bồi đầy phù sa màu mỡ của vùng Nguyệt Biều, Hương Hồ, Lương Quán nổi tiếng với những bãi ngô non, những vườn cây trái trĩu quả (đặc biệt vùng đất này là nơi duy nhất trồng được Thanh trà xứ Huế). Vượt qua Hương Hồ, Xước Dũ, dòng sông chia nước cho con sông Bạch Yến, con sông chảy qua trước chùa Huyền Không mà một lần tôi đã nhắc đến, rồi chảy thẳng về Đồi Hà Khê. Đến đây lòng sông mở rộng ra và dòng sông trở nên phẳng lặng khác thường.








Nếu đang xuôi thuyền theo dòng sông, ra khỏi đoạn ngoặt này, bạn sẽ nhìn thấy ngôi chùa nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ngôi chùa cổ ở Cố đô Huế, đó là Chùa Thiên Mụ (còn gọi là Chùa Linh Mụ) cùng ngọn tháp Phước Duyên sừng sững phía bên kia sông. Đây là ngôi chùa cổ nhất, kiến trúc đồ sộ nhất và cũng là ngôi chùa đẹp nhất của xứ Huế.





Có lẽ tôi không cần giới thiệu nhiều về ngôi chùa này vì nó đã quá nổi tiếng, gần như là một biểu tượng của Huế, cũng giống như chùa một Cột ở Hà Nội và chợ Bến Thành của Sài Gòn vậy. Tôi chỉ mời bạn cùng xuống thuyền vào thăm ngôi chùa này mà thôi.
Chùa được xây theo hình chữ nhất, theo đúng với hướng của kinh thành Phú Xuân, từ bến thuyền với bậc cấp, dẫn lên các bốn trụ biểu, rồi nhiều bậc cấp nữa dẫn lên nền cũ của đình Hương Nguyện, tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm.




Từ bến thuyền theo những bậc cấp để lên chùa



Phía trước Nghi Môn gồm các công trình kiến trúc, có 24 bậc tam cấp lên xuống Tam Quan và 4 trụ biểu xây sát đường, từ đó có 15 bậc tam cấp dẫn đến Đình Hương Nguyện.


Sừng sững phía trước là Tháp Phước Duyên do Vua Thiệu trị xây năm 1844 bằng gạch, cao 21m gồm 7 tầng. Tháp thờ đức Phật tổ Như Lai và đức Thế Tôn. Các tầng đều có tượng Phật, tương truyền ngày xưa được đúc bằng vàng, về sau thay bằng đồngTháp Phước Duyên là ngôi tháp bát giác cổ và cao nhất Việt Nam (Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục năm 2006).




Các trụ biểu đứng từ nền đình Hương Nguyện nhìn từ phía trong ra.


Phía trước Tháp Phước Duyên vua Thiệu Trị cho xây đình Hương Nguyện năm 1844 (để nhà vua dâng hương, cầu nguyện). Trận bão năm Thìn (1904) làm hư hỏng nhiều công trình trong đó có đình Hương Nguyện, nay chỉ còn là lại nền đình.





Đại Hồng Chung do chúa Nguyễn Phú Chu cho đúc năm 1710 cao 2,50m, nặng trên 2000kg và viết bài ký để khắc vào chuông. Chuông này được coi như là một pháp khí của chùa.

Tấm bia thời Lê Trung Hưng là tấm bia lớn nhất Việt Nam (Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục năm 2008).





Tấm bia được làm bằng đá khá lớn vào năm 1715, cao 2,6m, rộng 1.25m và đặt trên lưng rùa bằng đá cẩm thạch. Nội dung trên bia nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây, việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bộ kinh Phật đưa về đặt tại lầu Tàng Kinh, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm - người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ở Đàng Trong.







Lầu bia hình lục giác






Tượng Kim Cương Hộ Pháp hai bên cổng Tam quan




Cổng Tam quan vào chùa


Đại Hùng Bửu Điện


Đại Hùng Bửu Điện


 


Tượng Phật Di Lặc thờ giữa Đại Hùng Bửu Điện



Điện Đại Hùng là nơi thờ Phật, trung tâm của Chùa Thiên Mụ. Điện gồm 5 gian, 2 chái, được bài trí rất tôn nghiêm với nét kiến trúc đồ sộ, nguy nga. Ngoài những pho tượng Phật bằng đồng, bức hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng do tự tay Chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề vào năm 1714 còn có 1 chiếc khánh đồng lớn chạm hình nhật nguyệt tinh tú. Chiếc khánh đồng này do vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cung tiến chùa.






Nhà Tăng của chùa




Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày. ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam là Đào Tấn .


Cạnh đó là chiếc xe ô tô - di vật của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi tự thiêu để phản đối chính Sách đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963.





Sau cùng chùa là vườn thông tĩnh mịch thoáng đãng.





Cuối khu vườn là khu mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, thế thứ 42 dòng Lâm Tế, đời thứ 8 dòng Thiền Liễu Quán, vị trụ trì nổi tiếng của Chùa Thiên Mụ, người có công trùng tu để giữ cho ngôi chùa lịch sử được trang nghiêm như ngày nay.




- Phần 5 - Cồn Dã Viên - Cầu Bạch Hổ





Nếu đi dọc sông Hương, qua khỏi chùa Thiên Mụ, các bạn sẽ đi qua một quãng sông Hương êm đềm của làng Kim Long, hai bên bờ là những hàng ngô non xanh mơn mởn trên dải đất phù sa ven sông. Kim Long là nơi các chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làm đất đóng đô từ năm 1636, tuy nhiên vùng đất này “trời hành cái lụt mỗi năm”, do đó đến đời chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái lại dời Phủ chúa về làng Phú Xuân. Cũng chính vì vậy mà làng Kim Long hiện nay vẫn còn rất nhiều nhà vườn và các Phủ đệ ven sông của các ông Hoàng trong gia tộc Nhà Nguyễn (hiện nay có khu nhà vườn Phú Mộng _ Kim Long là nơi thu hút khách du lịch rất nhiều). Con gái Kim Long ngày xưa nổi tiếng là khéo và đẹp, đến nỗi nhà vua cũng phải đích thân vi hành:

“Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều, Trẫm đi”.



Quãng sông Kim Long này cũng từng diễn ra các cuộc thao diễn lực lượng thủy binh hùng hậu của nhà Nguyễn, mà lễ hội Festival Huế 2010 đã tái hiện lại một cách hoành tráng.
Trước khi vào trung tâm thành phố Huế, dòng sông Hương trở nên chậm rãi, tại đây phù sa bồi lắng đã tạo thành một cồn đất hình thoi nổi lên giữa sông Hương, nằm ở phía Tây nam kinh thành, gọi là Cồn Dã Viên và được xem như Bạch Hổ chầu bên phải kinh thành.


Nơi định đô gắn với việc thịnh suy của một triều đại, do đó việc chọn địa điểm xây dựng kinh thành rất được coi trọng. Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, đã có tám lần các chúa Nguyễn di dời thủ phủ rồi cuối cùng trở về lại Phú Xuân. Ngày Quý Mùi tháng 4 năm Ất Sửu, năm Gia Long thứ 4 (tức 30.4.1805), Kinh thành Huế được khởi công xây dựng. Tuân thủ theo những nguyên tắc Dịch lý và Phong thủy, nhà Nguyễn đã chọn xây kinh thành vê hướng Đông Nam (thuộc phương Nam) vì Kinh dịch viết: “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” nghĩa là bậc đế vương xây mặt về hướng Nam để nghe (cai trị) thiên hạ; lấy núi Ngự Bình làm bình phong che chắn cho kinh thành; lấy sông Hương làm yếu tố minh đường, dòng sông nằm dài giữa hai cồn đất cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho Kinh thành; hai bên có Cồn Hến và Cồn Dã Viên tạo thế Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ chầu về trọng địa kinh thành. Đó là thế rồng chầu hổ phục bảo vệ cho vương triều.




Một tấm bia làm bằng đá Thanh cao 70 cm, rộng 40 cm, dày 11 cm,
khắc 3 chữ đại tự "Dữ Dã Viên" và lạc khoản cho biết bia được
dựng vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 21, tức là tháng 7-1868


Khi mới bắt đầu xây dựng kinh thành thì cồn đất này chưa có tên, cái tên chính thức của cái cồn ấy thì phải đến thời Tự Đức mới được đặt. Vua Tự Đức đã nhận ra vẻ đẹp lý tưởng của nó trên dòng sông thơ mộng và đã cho biến cái cồn này thành một vườn ngự. Chính nhà vua đã đặt tên là Dữ Dã Viên (vườn Dữ Dã), lấy ý nghĩa của địa danh Dữ Dã được gợi hứng từ một câu chuyện trong lịch sử được ghi chép ở sách Luận ngữ. Tuy nhiên lâu ngày, để cho tiện, dân gian bớt đi một chữ còn: Dã Viên, nên tên cồn mới trở thành cồn Dã Viên.
Cồn Dã Viên được nhắc đến nhiều trong các văn tự thời Nguyễn, đó là nơi các chúa Nguyễn đã từng tổ chức các trận đấu giữa voi (tượng trưng cho vua) và hổ (tượng trưng cho cái ác). Một chứng nhân phương Tây có mặt tại Thủ phủ Phú Xuân bấy giờ là Pierre Poivre thuật lại rằng vào năm 1750, vị chúa Nguyễn ấy và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần bờ bắc của cồn để xem cho đến khi 40 con voi quật chết 18 con cọp mới thôi. Tuy nhiên có lần một con hổ quá mạnh đã tát con voi gục xuống và nhảy ra phía khán giả, làm vua quan một phen khiếp sợ. Vua Minh Mạng sau đó đã xây trường đấu Hổ Quyền. Lầu ngự của vua nghe nói tồn tại đến năm 1900, còn từ 1925 thì bỏ mặc cho mưa nắng.




Cây đa hơn 200 năm tuổi và gò đất cao - nơi
vua ngồi để xem hổ giao chiến với voi tại cồn Dã Viên.


Cồn Dã Viên còn gắn với một công trình khác: cầu Bạch Hổ. Đó chính là cây cầu mà nếu bạn đến Huế bằng đường sắt thì trước khi vào ga Huế bán sẽ đi qua đó. Cầu được xây dựng vào năm 1908, cùng lúc với tuyến đường sắt Huế - Quảng Trị. Cầu gồm hai phần: phần phía Bắc cồn, dài 302,10m, rộng 4,05m và cao 4,35m ( bắc ngang từ bờ bắc sông Hương đến cồn Dã Viên) và phần phía Nam, dài 102,70m, rộng 4,10m và cao 4,40m (bắc ngang từ Cồn Dã Viên qua bờ Nam sông Hương). Ngày xưa kia cầu vẫn làm bằng sắt nhưng mặt cầu lát gỗ. Mấy thanh gỗ mục nát hết nên người qua cầu lúc nào cũng có cảm giác như chân mình sắp lọt tõm xuống cầu qua cái lỗ hổng rộng ngoác. Chiếc cầu hồi ấy được ngăn ba phần, ở giữa dành cho xe lửa còn hai bên dành chỉ cho khách bộ hành và xe đạp. Sau một thời gian, hư hỏng xuống cấp, cầu được trùng tu, sửa chữa, lúc này phần dành cho khách bộ hành hai bên cầu được xích lại gần nhau hơn nằm một bên của cầu và có một rào chắn ở giữa phân tách hai luồng giao thông.









Từ xưa đến nay, người Huế vẫn thường quen gọi cây cầu đường sắt bắc qua sông Hương này là cầu Bạch Hổ (hay Bạch Thổ), biển tên cầu cũng ghi rõ là cầu Bạch Hổ. Thế nhưng ít ai biết rằng, cây cầu cầu mang tên Bạch Hổ từ xưa lại không phải là cây cầu này, cũng không phải bắc qua sông Hương (thời các chúa Nguyễn chưa đủ sức làm cầu qua sông Hương), mà đó là cây cầu bắc qua sông Kẻ Vạn – con sông đào nối Sông Hương với sông An Hòa, tạo nên nhánh phía tây của tuyến thủy lộ gọi là Hộ Thành Hà. Cầu vốn được dựng bằng gỗ khoảng năm Mậu Thìn 1808, đời vua Gia Long. Tương truyền, khi cầu Bạch Hổ (lúc đó chưa được đặt tên) đang được xây cất, có một con hổ trắng đến ngồi ở giữa cầu khiến mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy. Cũng chính vì thế mà cây cầu này được gọi là cầu Bạch Hổ. Tới đời vua Minh Mạng, vào năm 1839 cầu được đổi tên là cầu Lợi Tế. Hiện nay tấm bia Lợi Tế kiều bằng đá thanh, cao 98cm kể cả phần đế, hiện còn nguyên trạng nơi đầu cầu, có khắc dòng lạc khoản: Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi ngũ nguyệt cát nhật tạo. (Nghĩa là tạo dựng vào một ngày tốt tháng 5 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Minh Mạng XX, tức tháng 6-1839).
Năm 1990, cầu Bạch Hổ bị sập vì quá tải, nên được xây mới bằng bê tông cốt thép. Rộng 6,8m, dài 24,7m, cầu hiện nằm ngay đầu đường Kim Long – trục lộ men tả ngạn Sông Hương, xuyên qua phường Kim Long, dẫn tới chùa Thiên Mụ, nên đang được gắn biển đề cầu Kim Long.




Cầu Bạch Hổ - Cầu Lợi tế xưa và cũng là cầu Kim Long hiện nay


Bản thân tôi vẫn còn nhớ rất rõ thời điểm này bởi nó gắn liền với một kỷ niệm dại dột thời trẻ mà sau này mỗi lần nghĩ lại bỗng thấy rùng mình. Năm 1990, hai chúng tôi rủ nhau lên làng Hương Hồ chơi, nơi mà năm trước tôi đã đến thực tập tốt nghiệp. Lúc đi qua Kim Long, mặt sông Hương vẫn đang còn bình lặng. Mưa rất to, nhưng vì sự đón tiếp nồng hậu chúng tôi đã nán lại khá lâu. Ba tiếng đồng hồ sau, khi trở về quáng sông Hương qua Kim Long đã tràn ngập tất cả, con đường nhựa đã nằm sấu dưới1 mét nước. Hai chúng tôi gắng gượng lội theo dòng nước qua khỏi khu vực ngập lụt, tưởng chừng như thoát thì con sông Kẻ Vạn chắn ngang trước mặt, cây cầu Bạch hổ đã sập, cây cầu tạm giờ cũng đã chìm dưới mặt nước. Phương tiện liên lạc hồi ấy không có mà không thể không về nhà, vậy là phải chạy quanh năn nỉ mãi mới có một chiếc thuyền chịu chấp nhận đưa chúng tôi qua dòng nướcđang chảy siết. Con thuyền nương theo dòng nước, dưới trời mưa tầm tả, không có một phương tiện cứu hộ nào, phải chịu trôi một khoảng mấy trăm mét, chúng tôi mới sang được bờ bên kia. Sau này mỗi lần nghĩ lại, nếu một cơn gió mạnh đánh lật thuyền chắc có lẽ tôi không còn ở đây mà gõ những dòng chữ này nữa .
Hiện nay, một cây cầu mới song song, đang được xây dựng sát cạnh với cầu Dã Viên (Bạch Hổ). Cầu dài 542,5m; bề rộng cầu (4 làn xe) 24,5m, có tổng mức đầu tư là 673,042 tỷ đồng, thời hoàn thành trong 3 năm. Cầu có các vọng lâu dọc thân cầu để ngắm cảnh sông Hương, phù hợp với không gian kiến trúc của Cố đô Huế và hệ thống đèn chiếu sáng nghệ thuật cho cầu.


Mô hình cầu đang xây dựng qua sông Hương song song cầu đường sắt Bạch Hổ, trên cầu có những vọng lâu để ngắm cảnh


Nếu bạn đến Huế bằng đường sắt, từ phía Bắc vào thế nào bạn cũng qua Cồn Dã Viên trước khi vào thành phố, bởi lẽ đường sắt có một quãng chạy qua giữa Cồn Dã Viên (nằm giữa hai cây cầu). Cahức hẳn bạn sẽ cảm thấy thú vị khi nhìm ngắm quang cảnh xung quanh và cố mường tượng so sánh với những gì tôi đã kể cho các bạn trong bài viết này nhé.


Phần 6 - Bến đò Thừa Phủ dĩ vãng một thời


Qua khỏi cầu Bạch Hổ, bạn sẽ đi vào quãng sông thơ mộng nhất của sông Hương, chảy qua thành phố, hai bên bờ sông là những công trình cổ kính soi bóng : Bia Quốc Học, Bến Phu Vân Lâu, Kinh thành Huế, Nghinh Lương Đình, Đình Thương bạc và xa xưa kia còn là những bến đò một thời đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ như bến đò Vân Lâu, bến đò Thừa Phủ, bến đò Tòa Khâm, bến đò Đập Đá,… thế nhưng bến đò lãng mạn nhất đến bây giờ vẫn lưu giữ trong ký ức những người yêu Huế, nhất là những ai đã từng trải qua một quảng đời áo trắng: bến đò Thừa Phủ với hình ảnh tà áo dài tím thướt tha của nữ sinh Đồng Khánh hàng ngày trên bến đò ngang.





Bến đò Thừa Phủ ngày xưa (ảnh tư liệu)


Bến nằm ở bờ Nam sông Hương, bên cây đa cổ thụ trước mặt Phủ Doãn Phủ Thừa Thiên (bây giờ là UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế), bến bờ Bắc nằm gần Nghinh Lương Đình. Sỡ đĩ bến đò này có tên là Thừa Phủ vì bến này nằm trước dinh Thừa Thiên Phủ doãn, tức là nơi quan đầu tỉnh Thừa Thiên làm việc. Thừa Thiên Phủ doãn gọi tắt là Thừa Phủ. Lúc đầu (1899), Bến đò Thừa Phủ phục vụ cho nhu cầu đi lại của viên chức, lính tráng và nhân dân từ bờ bắc sang bờ Nam làm việc và quan hệ, giao tiếp. Về sau, bến đò càng phát triển khi trường Quốc Học, Nhà Thương Huế, rồi trường Đồng Khánh được xây dựng. Mãi đến khi cầu Phú Xuân, hay còn gọi là cầu Mới, được xây dựng năm 1973 thì bến đò này mới đi vào dĩ vãng. Gần 70 năm có mặt (1899-1972), không tính hết bao nhiêu chuyến đò đã cập bến rồi đi mỗi ngày trên dòng Hương thơ mộng.




Bến đò Thừa Phủ năm 1963


Ngày nay, dù không còn các bến đò nữa, nhưng hoài niệm về bến cũ, đò xưa vẫn lưu giữ trong ký ức những người yêu Huế, nhất là những người Huế lớn tuổi. Tái hiện lại Bến đò Thừa Phủ là tìm về nét đẹp của thời xưa yêu dấu, với những nét văn hóa riêng của cố đô mà chẳng nơi nào có được. Tại Festival Huế 2004, Bến đò Thừa phủ đã được tái hiện lần đầu tiên. Sau đó, đến Festival 2006, Bến đò Thừa phủ mới được tái hiện một cách sống động, nhộn nhịp, trở về đúng với ngày xưa của nó, với những gánh hàng rong trên bến, phục vụ nhu cầu "ẩm thực" của thực khách trong lúc chờ đò...".

Cảnh tái hiện lại Bến đò Thừa Phủ :




Xuôi dòng Hương Giang - Phần cuối - Cồn Hến

Sau khi qua khỏi 2 cây cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền, xuôi về phía dưới không xa là cồn Hến, lớn hơn nhiều so với Dã Viên. Cồn Hến là vùng đất bồi ra giữa sông Hương phía tả hoàng thành, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Theo quan niệm phong thuỷ, nó đựơc xem là Tả Thanh long của Kinh thành Huế.




Hình ảnh Cồn Hến nhìn từ thành phố


Trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An, cồn Hến từng được tả là “một cù lao xinh đẹp”. Khởi thuỷ gọi là cồn Soi. Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời, cái tên này có lẽ bắt nguồn do dân sông nước chài lưới sống bằng nghề soi cá tôm ban đêm. Cái tên Cồn Hến sau này mới được đặt, xuất phát bởi hình dáng của cù lao này nhìn từ trên cao xuống trông “hao hao con hến”. Nhưng có người lại bảo tên gọi ấy là bởi người dân ở đây chuyên làm nghề hến, người ta lấy luôn tên nghề để đặt cho tên đất. Có lẽ điều này đúng hơn.




Thời gian chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725- 1738) xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, ông Huỳnh Tương (người xã Diên Đại, Phú Xuân, Phú Vang) đến ở dựng chòi gần đầu múi cồn phía trên ở làm nghề cào hến. Chuyện kể rằng, vợ chồng ông bà họ Huỳnh này nghèo lắm. Người chồng cần mẫn ngày đêm đi đánh bắt cá, vợ ở nhà lo chăm con. Mong kiếm thêm chút thức ăn cho gia đình, người vợ cũng cặm cụi ra bờ sông mò bắt hến. Sau, bắt được nhiều bà đem đi bán bớt. Dân Huế bắt đầu làm quen với món ăn mới, mộc mạc, hiền và rẻ của sông nước quê nhà. Những người phụ nữ khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo.

Nhánh sông nằm giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, phía bên kia sông là Cồn Hến. Từ quán cafe Vĩ Dạ Xưa bạn có thể nhìn thấy cồn Hến phái bên kia nhánh sông.

Mãi đến đầu niên hiệu Gia Long (1802-1820), phường Giang Hến ra đời, từ đó đảo nhỏ nổi giữa sông Hương, phía tả hoàng thành này được gọi là xứ (đảo) cồn Hến. Từ mò bắt bằng tay, người ta nghĩ ra cái cào để vừa đỡ vất vả vừa bắt được nhiều hến. Tương truyền, đến đời Thiệu Trị, con hến đã được bán nhiều ở khắp các chợ vùng kinh đô Huế và trở thành món ăn ưa thích của nhiều người. Một đầu bếp đã dâng lên vua món ăn dân dã này. Vua Thiệu Trị ăn thử thấy ngon. Hỏi lai lịch nghề và biết được làm nghề hến hết sức cực nhọc mới ban chỉ dụ nghề hến là “nghề được miễn thuế”.




Cầu Hương Lưu dẫn vào Cồn Hến (nằm ngày đầu chợ Vỹ Dạ, trên đường Nguyễn Sinh Cung)

Cúng tổ nghề hến được tổ chức vào các ngày 24 và 25 tháng 6 Âm lịch hàng năm. Tại cồn Hến hiện vẫn còn lưu giữ ngôi nhà thờ tổ tại Phường GiangHến. Vào dịp cúng tổ, nhà thờ được bài trí tôn nghiêm, lễ phẩm, trầm hương nghi ngút. Lễ tục này được tổ chức là do nguyên nhân sau: Vào năm Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) ở phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi thuyền ra dũi hến ở vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), bị hương lý xã kéo ra bắt, đưa thuyền của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt. Dân phường Giang Hến hay tin, làm đơn kéo nhau đi kiện, được châu phê: " Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu"
(Nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng).
Thắng kiện, phường Giang Hến kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước châu phê, xã Hương Cần phải thả bà Thẹp, đưa thuyền của bà Thẹp xuống nước, dân phường Giang Hến rước về tận đình phường làm lễ tạ. Cho rằng sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông phù hộ, cho nên dân làng lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm. Ngày chánh tế, một vị bô lão đứng chủ tế trước hương án trên một chiếc thuyền gọi là thuyền cầu nghề. Trên hương án có “sắc bằng” tổ nghề vốn vẫn được lưu giữ từ xưa tại nhà thờ họ Huỳnh, dòng họ đã khai sinh nghề hến. Thuyền được cho chạy quanh cồn Hến để thỉnh Tổ, sau đó rước về nhà thờ và hành lễ. Sau khi tế lễ xong, “sắc bằng” tổ nghề lại được trang trọng hoàn thỉnh về tại nhà thờ họ Huỳnh.
Qua thời gian, từ một ốc đảo nhỏ được đất bồi, cát lấp, cồn Hến ngày nay thành một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha. Ốc đảo cồn Hến ngày nay trở thành một khu dân cư đông đảo trù phú, nhà cửa, trường học, đền chùa được xây dựng khang trang. Hơn thế, đây còn có nhiều quán cơm hến, chè bắp cồn...vừa nhỏ xinh xắn nấp mình sau những lùm cây xanh, soi mình mặt nước sông Hương.




Ngoài món cơm hến, thì cồn Hến còn món chè bắp cũng nổi danh không kém, được làm từ bắp Cồn được trồng ở bãi bồi màu mỡ ven sông Hương. Chè bắp là món hấp dẫn nhất, cao sang nhất trong tất cả các món ăn chế biến từ bắp Cồn. Chè bắp thơm ngọt, không phải cái ngọt của đường mà là cái ngọt riêng của sữa bắp non. Muốn nấu chè bắp phải biết chọn hạt bắp non vừa ngậm sữa, bóc hết bẹ, bỏ hết râu, bỏ hạt sâu. Xong dùng dao bào thái theo chiều dọc quả bắp. Bào bắp xong, cùi bắp cho vào nồi luộc để lấy nước. Nước luộc cùi bắp lọc thật trong rồi thêm nước đun sôi để nấu chè. Khi nước sôi cho đường (vì nước luộc cùi bắp đã ngọt nên chỉ cần cho ít đường vừa đủ độ ngọt) và ít bột đao vào để cho chè sánh, rồi đổ bắp thái vào, khuấy đều tay, chè sôi lại là được. Chè bắp có vị ngọt thanh tao, mùi thơm mát được ưa chuộng nhất trong các loại chè ở Huế.
Nếu có dịp đến Huế, xin mời bạn đừng quên ra nơi này để thưởng thức mùi thơm béo của những bát nước hến trắng đục được lấy từ dòng Hương và vị ngọt của những bát chè bắp hôi hổi nóng được trồng từ vùng đất nổi giữa lòng sông. Nhìn bao quát, vùng cồn Hến như một hòn đảo, tô điểm thêm cho nét tươi đẹp của dòng Hương hiền hòa, thơ mộng.

Bài viết này đã kết thúc chuyến xuôi dòng Hương Giang, đưa các bạn từ từ Ngã ba Bằng Lẵng qua 7 điểm dừng cho đến Cồn Hến. Nơi đây gần như cũng là điểm dừng của các bến thuyền rồng du lịch dọc con sông hương thơ mộng. Một ngày nào đó, các bạn có dịp đến Huế, lênh đênh trên một chiếc thuyền rồng du lịch xuôi dòng Hương từ lăng Minh mạng trở về thành phố, chắc hẳn ràng các bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn rất nhiều khi vừa được ngắm khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp vừa biết được tường tận những huyền thoại, những câu chuyện kỳ thú xoay quanh nó từ bao đời nay.

Bài viết của Nguyễn Văn Liêm

--
Nguon: http://www.nhohue.org/dongsonghuong.htm




Về thăm rừng Điệu Ngộ tháng tư

Gởi em bài em thích: Ru ta ngậm ngùi, QD

Hoa trong rừng Điệu Ngộ mùa xuân, tặng Ngộ..


Về thăm rừng Điệu Ngộ tháng tư

Tiếc thương 
Nắng nhạt còn vương,
Anh về Điệu Ngộ 
Ngát hương núi rừng..

Ô kìa,
Mai nở xinh sao,
Cho anh gởi chút 
Lao xao đến nàng!  

ĐỗNguyễn

Sunday, 5 April 2015

Mời Ngộ xem vài tấm hình chụp hồi chiều cho Ngộ- ĐN

Thành phố đầu tháng tư




Thành phố anh sống

Thành phố đẹp trong thung lũng rộng,
Lượn vòng quanh dưới những ngọn đồi.
Bao năm chừ anh mới biết hỉ,
Từ nơi đây: thấy tận chân trời!

Đất lành chim đậu đã lâu rồi,
K1 nơi anh học ngày xưa
Đồi kia sừng sửng tháp Leon!(1)
Đáng quý sao những gì trong mắt!

ĐỗNguyễn
chiều 4.2015
--
Prof. Dr. Leonhardt đã thiết kế tháp truyền hình bằng phương pháp spannbeton đầu tiên trên thế giới. 
 

Chồi xanh




K2 và K1, nhà cao, Uni Stuttgart, K1 là nơi anh từng học




chồi non tháng tư 2015



xe Traction của ba

Ngộ ơi,

Có lẽ Ngộ đã ngủ rồi, mong em ngủ được nhé. Anh chuẩn bị đi ra rừng chụp hình chút.. mối 4.30 buổi chiều chủ nhật.
Anh mới tìm được vài tấm hình về chiếc xe Traction của ba anh tậu hồi xưa, lúc ấy là thú vui ấp ủ của ba..Hai kỹ sư là Lefebvre và Bertoni góp phần thiết kế.


 Traction Citroen (1)

Traction, VN


Vài chi tiết về chiếc xe Traction xưa này:
http://de.wikipedia.org/wiki/Citro%C3%ABn_Traction_Avant

Traction Avant

(deutsch „Vorderradantrieb“) ist die geläufige Bezeichnung für die ersten vorderradangetriebenen Citroën-Serienmodelle 7A, 7B, 7C, 11B (beide mit Reihenvierzylindermotoren) und 15/6 (mit Reihensechszylindermotor), die zwischen 1934 und 1957 gebaut wurden.

Entwickelt wurde der Traction Avant unter der Leitung von André Lefèbvre und Flaminio Bertoni, die 1955 auch für den Nachfolger Citroën DS verantwortlich waren.

--
(1)
http://de.wikipedia.org/wiki/Citro%C3%ABn_Traction_Avant#/media/File:Citroen-TractionAvant1954.jpg

Chủ nhật

Hi em,

Lúc này anh gặp gỡ được vài đề tài mới
Về đông y, cách thở (thổi ra) để hạ huyết áp.. cách này anh đã thử, thấy xuống thiệt. (Thày Đỗ Đức Ngọc)
Về cách đọc sách, kể cả Kinh điển để tìm ra lý đạo (Sư VM), lúc này anh đang đọc cuốn sách TTHT của ông.

Trời bên anh đẹp, hôm nay chủ nhật trong lễ Phục sinh, ngày mai vẫn là lễ PS.

Anh thấy Ngộ hôm nay có vô thăm vườn..
Cám ơn em nhiều, anh rất vui thấy dáng em ghé qua..

Anh gởi em vài bài hát em thích nha:

Ru ta..

Vẫn có em..

Vườn xưa

ĐỗNguyễn

Saturday, 4 April 2015

Good morning, chủ nhật Phục sinh

Từ giọng hát em.. nhớ giọng ngêu ngao của Ngộ quá chừng.. 

Ngộ ơi,

Hồi chiều đi chợ mua được nhiều món rẻ 30%..

Ngoài ra, tìm được tài liệu về lịch sử phát triễn auto..
Dù sao, TP anh đang ở nơi sản xuất xe hơi..

Buổi tối âu châu bà con vô room khá đông.
Khi phía VN đi ngủ, room hết người cầm mic.. anh trình bày bài Kinh Trường trảo, TBK 74.
Bài Kinh rất hay!

Bây giờ, sau khi nấu xôi ăn với cevappcici, chiên với xả và mắm ruốc, kiểu em đã chỉ cho anh..
Ăn ngon lắm!

Giờ anh sh Cư trần lạc đạo phú hồi 7 với bà con trước khi qua room sư TD..

Khuya qua, anh thấy em có vào thăm blog, anh vui lắm.. anh có kêu Ngộ ơi quá chừng, ma không thấy em trã lời..

Thương

ĐỗNguyễn

Ngộ ơi !

Suối





Suối

Nước chảy ra suối
Suối chảy ra sông
Sáng ta thức giấc
Đón chào thong dong
Vui niềm vui đạo
Mở Blog dáng ai
Còn chi hơn rứa!

ĐỗNguyễn

Friday, 3 April 2015

Đêm mưa em ghé thăm vườn

Dạ vũ


Đêm mưa em ghé thăm vườn

Em đi chơi có vui không
Chiều nay thức dậy nhớ trông em nhiều
Anh vào xem blog cô liêu
Bỗng dòng cảm thọ khều khều tin em
Ô kìa dáng Ngộ êm đềm
Ghé khu vườn nhỏ em về đêm mưa
Em về, anh đang giấc trưa
Bất ngờ em đến quên ra đón nàng

ĐỗNguyễn




Thursday, 2 April 2015

Viet cho Ngộ, Doc Cu tran lac dao, nghe Giang trang







Anh đi chợ thức ăn và nước uống vì ngày mai lễ Phục sinh, siêu thị đóng cửa.

Bên em khi nào mới nghỉ PS?

Về nhà..

Sinh hoạt cho room. Giờ anh đang nghe nhạc và đọc Cư trần lạc đạo Phú của Vua Trần nhân Tông.
Vừa li giải vừa nghe nhạc..
Như vậy CTLD có 10 hội(1), đang học tới hội 6 rồi.
Trong lúc tìm hiểu, có những pháp hữu trong room rất hay!
Hôm nay có anh P.

Bên Ngộ đã 7 giờ sáng.. mong em buổi sáng vui khỏe!

DN 
--
1.
http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-van-xuoi?set_language=vi


Vuon xua

Anh đang nghe Giang Trang hát
Tháng tư she sẽ hát ở München..
Bài Vườn xưa anh thích, em thích không?

Hồi khuya nghe em đọc Pali..
Ngộ đọc chuẩn và nghe hay..
Các đoản âm anh vẫn còn ngập ngừng,
Còn em đọc thấy dễ dàng..

Hôm nay nhóm Âu châu đang đi chơi ở Nauy vào room ca hát
Vui

Anh chuẩn bị đi ra tiệm và đi siêu thị chút..

Mong em đêm an lành!

ĐN

Wednesday, 1 April 2015

Ngộ

Tượng Phật trong nhà

Ngộ

Hôm nay Ngộ đi ngủ rồi,
Mà sao không thấy Ngộ thăm vườn nhà.
Ngày xưa em rất nhớ ta,
Mỗi ngày em vẫn thường vô ngó hoài!

Buồn ghê,
Xưa trước giờ Ngộ đi ngủ,
Còn hàn huyên tâm sự..

Buồn, gọi ông bạn cũ là Nhân

Trò chuyện đủ chuyện
Tôn giáo, bạn bè, sách vở, rượu Chile..
Lại vui!

ĐỗNguyễn
mong em được ngủ giấc ngon nha!

Giac mo- bankcard- telefon- cam tho va Em

Đêm qua anh nằm mơ
Lần này mơ giấc mơ khá dài
Nhưng sáng dậy không nhớ chi tiết

Sáng dậy chưa làm càphê,
Mở Blog, Room và Konto xem..
Điện thoại cho Bank
May qua, telefon đã chạy lại
Tìm cái bankcard..
Hú hồn đã tìm ra

Nhìn lại cảm thọ:
Tò mò em có vào blog thăm chưa
Vô room xem có gì vui?
Konto..
Vui vì diện thoại chạy, sau vài ngày Telekom trục trặc
Lo vì không tìm thấy bankcard
Lại mừng..vì tìm thấy nó..

Tò mò, thất vọng, lo, vui...
Túm lại: 3 loại cảm thọ đầy đủ cả
Sách viết: xã.
Có dễ xã như sách khuyên?
Hihi, không dễ..

DN








Hoa tháng 3 tặng Ngộ

Hoa tháng 3 tặng Ngộ

Tuesday, 31 March 2015

31.03 2015 bên anh 22.28, buổi sáng bên em..

Ba sinh viên ở Sidney mới đến đây học 1 năm


Thứ bảy anh đi Flomarkt, gặp 3 sv này. Họ mới qua và đang học ở Uni Tübingen.

Anh đang ngồi đọc bài Cư trần lạc đạo phú (Trần nhân Tông) trong room..(1)

Bên này, trời vào xuân nhưng vẫn lạnh, hồi chiều, anh đi về nhà, có mưa đá nho nhỏ..

Tủ lạnh hôm nay trống, trà earl grey cũng hết, anh dùng trà jasmin, vài hôm nửa anh sẽ làm món ruốc và mua nếp nấu xôi. Miam..

Pali
Hồi xưa, anh có biết 2 tài liệu học Pali cơ bản: (đã gởi qua email cho em file pdf va .đoc. Em xem email nhé!)

1.
Compiled by Lily de Silva, M.A., Ph.D.
University of Peradeniya, Sri Lanka
http://www.budsas.org/uni/u-palicb/v00.htm

2.
http://www.budsas.org/uni/u-paliht/00.htm

Cả 2 cuốn đều cơ bản. SC Liễu pháp và Sư CĐ bên Bangkok đều dùng 2 tài liệu này. Cả 2 đều có trên mạng.

ĐỗNguyễn
mong em một buổi sáng thứ tư đẹp



Bánh mì anh chụp hồi chiều trong tiệm Bäckerei để em xem
--
(1)

Trong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ (CTLĐ)

 Chữ “trong” ở đây có thể là chữ “cong”, và có người biên chép nào đó đã thử sửa lại thành chữ trong, tức là chữ mới. Tại vì hồi đó người ta chỉ dùng chữ cong. Trong đạo nghĩa có nghĩa là ta sống trong đạo và trong nghĩa. Khoảng là cái không gian rộng rãi. Cơ quan là những then máy, những phương pháp sử dụng trong thiền môn để giúp người thiền sinh cởi mở được những khổ đau, thoát khỏi cái kẹt của họ.

Monday, 30 March 2015

Chồi non

 Chồi non


Ngộ thương,

Ghé Rommel, bà nói đã xong việc của anh. R. nhắc về một việc cần làm! Nhớ
Mừng!
Thay vì đi xe vespa, anh đi bộ cho khỏe.
Chụp hình chồi non mới mọc..

Ghé nhà bank.. lấy được vài đồng lẻ cuối..
Vô hiệu sách cũ, tìm được cuốn sách của Konrad Lorenz.. nói về nạn nhân mãn, sự vô cảm (anh nhớ em từng kể anh nghe về đề tài này), phá hoại môi trường.. của xã hội đương thời.. và cuốn 37 bài thơ và thư pháp của Mao.

Thảo luận với Sư TN về vô ngã và tự ngã. Đề tài hay? Chưa thấy ý kiến đột phá!

ĐỗNguyễn

sáng 30.03.2015



Götz Andriani viết về Beuys khó có thể chê được..

Sáng thức vô room..

Chuẩn bị đi ra bank lấy mấy đồng lẻ cuối.. Thay áo mang giày.. tìm vớ..
Mấy đôi vớ lủng lổ.. chờ khâu..

Bên ấy 9 giờ tối, có lẽ em đang coi tivi..

ĐN


Sunday, 29 March 2015

Còi tàu, em có nghe không?

Còi tàu

Khuya bên này
Sáng bên ấy
Hỏi em nè:
Hôm nay em có nghe tiếng còi tàu không?

ĐỗNguyễn

Nong va Lanh- bai tho thang 4-2014

Nong va Lanh/ ta(.ng Mi't



Nong va Lanh,,


Troi mua lam ram mai,
Long ta nho ve ai,
Mua Phuc sinh dang den,


Ta dang o trong dem,
Con gau xa om giuong
Ngu quen nguoi phuong nay..


Bong mot tieng keu ten,
Ta giat minh nhin len
Loi chao nhe..
Can phong bong sang len..

PV
Thang tu 2014
Mua don Phuc sinh
Ngày thứ bảy trôi qua
Anh thấy em co ghé thăm vườn
Lòng thấy niềm vui rộn

DN

Saturday, 28 March 2015

Tưởng (Sannã)

Trong Phật-giáo có ba danh từ có ý nghĩa tương-tự: Tưởng (Sannã), Thức (Vinnãna) và Tuệ (Pannã). Cả ba đều có nghĩa hiểu biết, nhưng ở mức độ khác nhau, cần phải được phân biệt rõ ràng. Một em bé hai ba tuổi thấy đồng tiền, nhận ra đó là đồng tiền, nhưng không hiểu giá trị nó. Một người đứng tuổi thấy đồng tiền thì biết giá trị của nó là thế nào nhưng không biết thể chất của đồng tiền ra sao, làm bằng gì... Một khoa học gia thấu triệt từng chi tiết các hóa chất và đặc tính của mỗi loại kim khí dùng để đút đồng tiền. Tưởng (Sannã) hay tri giác, như em bé, thấy vật gì tròn, nhỏ, dẹp, màu vàng... nhận ra đó là đồng tiền nhưng rõ ràng không biết giá trị của nó. Thức (Vinnãna) như người đứng tuổi biết giá trị và lợi ích của đồng tiền mà không hiểu bản chất hay các thành phần cấu hợp đồng tiền. Trí tuệ (Pannã) là tri kiến phân giải của chuyên viên, thấu triệt mỗi thành phần hợp thành đồng tiền.

Bonjour tristesse

nam mo nam mo ba` ra cay khe tui ra sau



Còn đâu

Còn đâu đêm tâm sự
Em kể chuyện ngày xưa buồn tủi
Anh ngồi lắng nghe em..

Xưa khác nay đà khác
Dòng pm của ta lặng lẽ..
Em không một hồi âm..

Trong lòng nỗi Buồn đến
Chào Buồn , kẻ láng giềng quen thuộc
Của những ngày xa Ngộ!


ĐỗNguyễn




Mit thương,

Nhân đây anh viết bài thơ:

Vô ngã

Các pháp đều vô thường khổ đau
Và vô ngã
Pháp sinh ra do duyên
Pháp diệt cũng do duyên
Kẻ si thì khổ đau
Ta đừng nghĩ như người si,
Sẽ thoát khỏi khổ đau!

ĐỗNguyễn
 

Friday, 27 March 2015

Mơ ước

Biển Cửa Đại
 
Mơ ước

Anh mơ sẽ có một ngày
Cùng em trên một chiếc thuyền về thăm
Quê nhà ngắm cửa giòng sông
Thu Bồn nhẹ chảy hòa cùng biển Đông

ĐỗNguyễn
.. mình đi bộ dọc theo bờ biển cửa Đại đến nơi sông Thu Bồn chảy ra biển..:)

gioi thieu voi Ngo 1 bai hay ve Ly quang Dieu

.. anh thich ong nay Ngo oi!
DN

Lý Quang Diệu

Lý Quang Diệu - nhà kinh tế học thực dụng
Sống thực tế, kiên định với những gì mình tin là đúng và có lợi cho đất nước, ông cũng sẵn sàng lắng nghe lời khuyên của người có kinh nghiệm, học hỏi những điều tốt khắp nơi để mang về áp dụng ở Singapore.

Phép màu kinh tế Singapore dưới bàn tay Lý Quang Diệu


Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu là người không ngại thách thức những tư tưởng vốn đã trở nên quen thuộc và không cần thỏa hiệp với những lý thuyết giáo điều. Đến tận cuối đời, ông vẫn tin tưởng, kiên định với việc chấp nhận và thích ứng hoàn cảnh khó khăn trong một thế giới luôn thay đổi. Để làm mới nhãn quan của mình, ông liên tục tìm lời khuyên, nghe quan điểm của các chuyên gia, nhà học thuật, các chính trị gia, nhà báo thậm chí ngay cả những người dân trên đường phố.

Dù nghe nhiều và chứng kiến nhiều cuộc tranh luận, ông không bao giờ để bản thân mình bị "lung lay" nếu chưa tìm ra được điều mà ông tuyệt đối tin tưởng, rằng điều đó tốt cho lợi ích dài hạn của người dân trên đất nước. Một trong những bằng chứng rõ rệt cho tính cách này là sân bay Changi - biểu tượng của đất nước Singapore mới giàu mạnh hiện nay.



Khi Singapore muốn mở rộng sân bay vào đầu năm 1970, một nhà tư vấn hàng không của Anh đề xuất bổ sung đường băng cho sân bay sẵn có ở Paya Lebar. Lý do mà công ty đưa ra là việc nới rộng, thay vì xây mới, sẽ giảm thiểu số tiền giải phóng mặt bằng, quỹ đất phải sử dụng. Nội các Singapore chấp nhận đề xuất trên, nhưng Thủ tướng Lý Quang Diệu vẫn đề nghị một công ty tư vấn khác của Mỹ đánh giá lại, sau đó tổ chức thêm một cuộc nghiên cứu khác nữa..

Cả hai nghiên cứu sau cho ra kết quả nên ở lại sân bay cũ và mở rộng nó. Nhưng vị Thủ tướng vẫn không hài lòng. Ông nói rằng việc giữ nguyên sân bay hiện tại không chắc là khôn ngoan với sự bền vững của Singapore về mặt dài hạn. Ông nhắc lại một bài học trên đường đời của mình: "Tôi từng đến sân bay Logan ở Boston và ấn tượng mạnh về tiếng ồn của những chiếc máy bay đi lên đi xuống. Nếu chúng ta mở rộng sân bay ở Paya Lebar, trung tâm Singapore sẽ phải chịu đựng ô nhiễm tiếng ồn trong nhiều năm tới.

Cuối cùng, ông chọn Chủ tịch của cơ quan Cảng Singapore, ông Howe Yoon Chong, người vốn nổi tiếng vì tính cách mạnh mẽ - yêu cầu thực hiện cuộc nghiên cứu cuối cùng. Người này đã trả lời ông rằng phương án sân bay Changi là có thể thực hiện được.

Sau đó, bất chấp cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973, Thủ tướng Lý Quang Diệu vẫn đặt cược một tỷ USD vào canh bạc sân bay Changi năm 1975. Đây là dự án mạo hiểm vì ông sẽ phải san phẳng nhiều tòa nhà, di chuyển hàng nghìn ngôi mộ, cải tạo nhiều khu vực đầm lầy, lấy đất lấn biển tại một số khu vực. Thời gian xây sân bay lúc đầu dự định là 10 năm, nhưng do tính cấp thiết đã rút gọn lại, buộc phải làm xong trong 6 năm.

Cuối cùng, quyết định của Thủ tướng Lý Quang Diệu đã mang lại quả ngọt. Ngày nay, sân bay Changi là một trung tâm du lịch, hàng không và điểm đến hấp dẫn của đảo quốc Sư tử.



Thử nghiệm: Liệu cách này có phù hợp với chúng ta?

Cách ông Lý Quang Diệu biến những câu chuyện không thể thành có thể, cách tiếp cận thực dụng, quyết tâm với tầm nhìn dài hạn đã giúp Singapore tồn tại và phát triển, ngay cả khi phương pháp ông làm dường như đi ngược lại những nguyên tắc thông thường.

"Tại một quốc gia đang phát triển, các bạn cần một lãnh đạo - người không chỉ thấu hiểu những cuộc tranh luận giữa các bên đối lập, mà còn phải nói được vào lúc kết luận rằng 'Hãy xem, trong trường hợp của chúng ta, cái nào có hiệu quả. Bất kể người Anh, người Australia, người New Zealand làm như thế nào. Đây là Singapore. Liệu cách này có hiệu quả ở đây?", ông nói.

Đã nhiều lần, ông chứng minh khả năng nhìn xuyên thấu của một người giàu kinh nghiệm, có thể vượt lên trên mọi định kiến, thành kiến. Khi còn trẻ, ông từng đọc về chủ nghĩa xã hội Fabian, một dạng làm chính quyền mà ông đặc biệt say mê trong quãng thời gian học đại học ở Anh, đến nỗi trong nhiều năm liền ông đăng ký mua tạp chí về chủ đề này để học hỏi.

Tuy nhiên, ông nhận ra rằng những lý thuyết này có thể không hiệu quả khi áp dụng vào thực tế. "Chúng ta phải sống trong một thế giới như nó vốn có, không phải thế giới mà chúng ta muốn có". Đó là một câu nói của ông mà sau này trở nên nổi tiếng.

Trong những năm đầu khi xây dựng đất nước, để phản biện lại lý thuyết đang thịnh hành thời điểm đó là các tập đoàn đa quốc gia không khác nào những tên thực dân kiểu mới - vốn chỉ chăm chăm hút sạch tài nguyên đất, lao động và khoáng sản giá rẻ của một quốc gia, Lý Quang Diệu đã làm điều ngược lại. Ông trải thảm đỏ mời các nhà đầu tư nước ngoài bằng chính sách thuế, tài chính hấp dẫn. Người đưa ra lời khuyên cho ông là nhà kinh tế Albert Winsemius đến từ Hà Lan. Bài giảng "các công ty châu Âu và Mỹ hoạt động như thế nào" của vị chuyên gia đã cho Lý Quang Diệu nhìn thấy tương lai của Singapore khi đất nước này kết nối vào hệ thống thương mại, đầu tư toàn cầu thông qua các công ty đa quốc gia, sử dụng chính mong muốn và lợi nhuận của họ.

Sau này, cố Thủ tướng giải thích lại một cách giản dị: "Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để kiếm sống, làm thế nào để tồn tại. Đó không phải là những câu hỏi kinh tế mang tính lý thuyết suông. Đó là vấn đề sống hay chết của hai triệu con người".

Nhìn lại, ông Lý Quang Diệu tin rằng duy trì lập trường thực dụng đã đảm bảo sự tồn tại cho Singapore lẫn sự phát triển như ngày hôm nay. Ông nói: "Nếu có một công thức cho sự thành công của chúng tôi, đó là chúng tôi đã liên tục học hỏi cách giải quyết mọi việc, làm thế nào để mọi thứ ngày một tốt hơn. Bài thử nghiệm tôi áp dụng vào mọi lý thuyết, mọi mô hình là liệu nó có hiệu quả ở đây không? Đó là bí quyết vàng luôn tồn tại trong văn phòng của tôi trong suốt những năm qua. Nếu một lý thuyết mang ra thử nghiệm không hiệu quả, hoặc kết quả tồi, tôi sẽ không mất thời gian và tài nguyên vào nó nữa".



Cú nhảy niềm tin

Sống thực tế không có nghĩa là hoàn toàn vận hành theo lối an toàn. Trái ngược lại, Lý Quang Diệu luôn không ngừng nghỉ trong việc cải tiến và biến những hoàn cảnh khó khăn thành cơ hội. Nhiều cuộc thử nghiệm có thể sai, ông nói, "nhưng điều tối quan trọng là không được e ngại cải cách".

Ông Peter Ho, người từng là chịu trách nhiệm về dịch vụ công ích của Singapore cho biết trong những năm đầu của Singapore, nhiều quyết sách đã được đưa ra mà căn cứ của nó không có gì hơn là dựa vào niềm tin.

"Xây cảng container đầu tiên ở Tanjong Pagar lại là quyết định liều lĩnh. Vì thời điểm đó, chưa có ai chứng minh rằng container là một phương pháp vận chuyển tốt. Nhưng Thủ tướng Lý Quang Diệu đã cho người phụ trách vấn đề này quyền hạn để biến nó thành hiện thực.

Ông Ho nói tiếp: "Trên thực tế, mong muốn thử nghiệm mọi thứ đã sinh ra một thế hệ các doanh nhân Singapore có khả năng biến những con số 0 trở thành những biểu tượng của Singapore ngày nay như hãng hàng không Singapore Airlines, Ngân hàng DBS, công ty ST Engineering, Sân bay Changi, công ty Singtel, và nhiều thứ khác. Hệ thống máy tính hóa quốc gia cũng là một ví dụ. Do Bộ Quốc phòng khởi xướng, nay hệ thống này đã làm biến đổi Singapore.



Đứng trên vai kẻ khác

Lý Quang Diệu luôn đưa ra các giải pháp bằng cách rút ra bài học từ những kinh nghiệm của nước khác hoặc nhờ tư vấn của chuyên gia. Không nhất thiết phải sáng tạo lại bánh xe, ông luôn lặp đi lặp lại câu nói này.

Trong các chuyến công tác của mình, ông luôn để ý, quan sát xem một xã hội, một chính quyền hoạt động như thế nào, điểm tốt ở đâu. Từ đó ông có những ghi chép lại về mọi thứ để mang về áp dụng, ví dụ loại cây nào có thể mang về trồng ở Singapore, ngành công nghiệp nào có thể xây dựng ở Singapore.

Cũng nhờ cách này, ông xây dựng các biện pháp ngăn chặn ô nhiễm không khí tại đất nước của mình. Khi đến Boston năm 1970, ông nhìn thấy những dòng xe nối đuôi nhau trước cửa các garage chờ đến lượt kiểm tra. Sau đó ông về nước và thiết kế hệ thống kiểm tra phương tiện. Khi đến Nhật và chứng kiến căn bệnh Minamata vì ô nhiễm năm 1970, ông đã dời các khu công nghiệp xa ra khỏi khu dân cư.

"Tôi thích đứng trên vai người khác, những người đã đi trước chúng ta", ông nói.

Khi gặp khó khăn, ông Lý Quang Diệu sẵn sàng nhận lời khuyên của những người có kinh nghiệm, bất kể việc họ đến từ đâu. Ví dụ, khi Singapore trong tình huống cấp bách cần xây dựng ngay lập tức lực lượng quốc phòng để phòng ngừa nguy cơ bạo loạn từ nhóm Malay Ultras năm 1965, Ấn Độ và Ai Cập đã không phản hồi đề nghị giúp đỡ. Trong tình huống này, ông Lý Quang Diệu đã quay sang phía người Israel. Mặc dù vậy, khi nhóm quân Israel đầu tiên đến Singapore vào tháng 11 năm đó, giới chức Singapore giới thiệu họ là "người Mexico" để tránh gây chú ý.



Cải cách hệ thống tài chính

Trong suốt nhiều năm liền, ông nổi tiếng với những quy định nghiêm khắc về hệ thống tài chính và trong việc bảo hộ các ngân hàng nội. Cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nổ ra giai đoạn 1997 - 1998.

Ông Heng Swee Keat, người lúc đó Thư ký riêng của ông Lý Quang Diệu nhớ lại: "Những quy định nghiêm ngặt của chúng tôi từng thích hợp trong quá khứ, nhưng trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại, các ngân hàng gặp khó khăn, ông Lý Quang Diệu đã quả quyết rằng Singapore cần phải thay đổi".

Khi đó, Lý Quang Diệu là Bộ trưởng cấp cao, đã mang đến cho Thủ tướng Ngô Tác Đống một bản kế hoạch, thuyết phục ông này làm theo. Bản kế hoạch này sau đó đã mang đến những thay đổi quan trọng về mặt chính sách và hệ thống tài chính Singapore.

Trong bài phỏng vấn năm 1999, ông Lý Quang Diệu đã nói: "Nếu chính phủ làm theo cách mà tôi đã làm cách đây 30 năm là bảo hộ ngân hàng nội, thì các ngân hàng nay đã gặp rắc rối. Chúng ta ngày nay đang ở một đất nước có sự hiện diện của 200 ngân hàng lớn nhất và cạnh tranh nhất thế giới. Do đó điều cần làm là cải thiện khả năng cạnh tranh của mình, nếu không sẽ giống như New Zealand, nơi tất cả các ngân hàng địa phương đã bị sang tên đổi chủ và về tay người nước ngoài".

Ông Heng nói tiếp: "Nếu ông Lý Quang Diệu không áp dụng những chính sách thay đổi vào cuối thập niên 1990 và không biến khó khăn thành cơ hội, chúng tôi sẽ không thể nào trở thành trung tâm tài chính mạnh như ngày nay. Chuẩn bị mở cửa thị trường tài chính ngay trong chính tâm của cuộc khủng hoảng tài chính cần sự dũng cảm và khả năng tiên đoán xuất sắc. Đây là những phẩm chất của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu".



Sòng bạc, giải đua F1 và vấn đề đồng tính


Bước vào thế kỷ 21, các quốc gia đứng trước cuộc cạnh tranh không khoan nhượng về nhân tài, du lịch, vốn đầu tư. Điều này đòi hỏi đất nước phải điều chỉnh lại một cách tinh tế vài vấn đề động chạm đến xã hội và người dân Singapore.

Trong cuộc phỏng vấn năm 2007, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu thừa nhận Singapore đã có quan điểm không rõ ràng về vấn đề người đồng tính. "Chúng tôi nói, được, hãy để họ yên. Nhưng về vấn đề luật pháp, hãy để đó tương lai giải quyết", ông nói. Trong khi Trung Quốc hay Đài Loan đã áp dụng những chính sách khá cởi mở, ông cho rằng Singapore còn có cộng đồng người Hồi giáo, một bộ phận người Hoa, người Ấn lớn tuổi và bảo thủ. "Do đó, chúng tôi để mọi thứ diễn biến thật chậm chạp. Đó là cách tiếp cận thực dụng để duy trì cân bằng xã hội", ông nói tiếp.

Từng có một thời gian dài cố Thủ tướng phản đối việc tổ chức giải đua Công thức một. Tuy nhiên, đến một ngày ông nhận ra rằng giải đua này mang đến một lực lượng những người hâm mộ giàu có và có thể đem lại lợi ích kinh tế cho Singapore. Lợi ích lớn hơn là đẩy mạnh vị thế của đất nước trên trường quốc tế cũng làm ông Lý Quang Diệu "lung lay". Ngoài ra, ông nhận thức được rằng cảnh quay về cuộc đua sẽ là cơ hội quảng bá hình ảnh Singapore đến hàng tỷ người trên toàn thế giới.

Còn về vấn đề sòng bạc, trước đây ông từng tuyên bố nếu muốn làm thì phải "bước qua xác tôi". Nhưng trong bài phỏng vấn giải thích với New York Times năm 2007, ông thừa nhận: "Tôi không thích bài bạc. Nhưng thế giới đã thay đổi và nếu chúng tôi không có những khu nghỉ dưỡng được tích hợp sòng bạc như ở Las Vegas, Singapore sẽ thua. Do đó, chúng tôi quyết định tiến hành. Hãy thử và cố gắng giữ chúng trong phạm vi an toàn, không dính líu đến mafia, mại dâm hay rửa tiền. Chúng tôi có thể làm điều đó không? Tôi không chắc, nhưng cho đến nay cuộc thử nghiệm vẫn tốt".

Nói tiếp về quan điểm của mình, cố Thủ tướng cho biết: "Chúng tôi phải đi theo bất cứ hướng nào mà hoàn cảnh thế giới hướng tới nếu muốn tồn tại. Nếu không kết nối với thế giới hiện đại, chúng tôi sẽ chết, sẽ quay lại với nhưng ngôi làng chài mà người dân Singapore đã từng ở cách đây cả trăm năm".

Anh Đức (theo Channel NewsAsia)
--
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/ly-quang-dieu-nha-kinh-te-hoc-thuc-dung-3161376.html

Nhớ biết, nhớ hiểu là tưởng”

“Sañjānāti sañjānātī’ti kho āvuso tasmā saññāti saññātī’ti. Này hiền giả! Nhớ biết, nhớ hiểu là tưởng”

Thursday, 26 March 2015

em về

Vẫn có em..


Em về

Em về thăm blog ngày xuân
Vườn xưa thêm đẹp bâng khuâng nắng vàng
Mời em một tách trà xanh
Cùng anh dạo bước ngêu ngao thơ Trần!

ĐỗNguyễn

Câu đầu tiên trong Cư trần lạc đạo

Cư trần lạc đạo, chữ Nôm



Ngộ ơi,


Đây là câu đầu tiên trong CTLDP của Trần nhân Tông. TNT viết tác phẩm này bằng chữ Nôm.
Anh lấy câu này để Room làm đề tài sinh hoạt..

ĐN
--

Mình ngồi thành thị; dùng nết sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; nửa ngày rồi tự tại thân tâm.

Nghĩa:

Thân hình tuy còn ngồi ở nơi thành thị, nhưng phong thái mình đã là phong thái của người sống ở núi rừng. Khi các nghiệp (thân, khẩu và ý) đã lắng xuống thì thể và tính mình đều được an tĩnh, chỉ cần nửa ngày thực tập thảnh thơi thì thân và tâm đều đã trở nên tự tại.

--
Chú thích: (1)

2) Mình: Thân thể, thân người (Tự điển chữ Nôm Trích Dẫn).

3) Nết: Nếp sống, phong cách, phong thái; tính hạnh, cách ăn thói ở (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị).

4) Nghiệp: (Từ ngữ Phật giáo) Hành động, hành vi thể hiện qua thân thể, lời nói, tư duy có thể tạo nên quả báo thiện ác về sau, Karma (Phật quang đại tự điển)

6)Thể tính: (Từ ngữ Phật giáo) Bản thể và bản tính, thực thể. Thể: Thực chất của sự vật, bản thể; Tính: bản chất không biến đổi của thể. Như vậy, thể là tính, tính là thể, 2 mặt của nhau. Thể tính của Phật và chúng sinh không khác nhau. Câu Xá Luận, quyển 13: “Thể tính thị thiện, Do như lương dược”.

體性指實體,即事物之實質為體,而體之不變易稱為性,故體即性。若就理之法門而言,佛與眾生,其體性同一而無差別。俱舍論卷十三(大二九‧七一上):「體性是善,猶如良藥。」(Phật quang đại tự điển)

7) Rồi: An nhàn, thanh thản, không bận bịu, thảnh thơi; Rãnh rỗi, rỗi rãi (Từ Điển từ Việt cổ).


--
(1)
https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2010/11/cc6b0-tre1baa7n-le1baa1c-c491e1baa1o-phc3ba-ebook_jan20_2015.pdf
http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-nguyen-van

Đèo Hải Vân



Wednesday, 25 March 2015

Ngộ ơi




Ngộ thương,

Hôm nay, anh bắt đầu đọc tác phẩm của Trần Nhân Tông,
Có em, làm nung nấu thêm sự tìm tòi của anh..

Thật là mừng..

ĐN

Chung một quảng đường




Ngộ

Ai cũng đi với ta một quảng đường
Chính ta mới đi với ta lâu nhất
Dù ai hay ta, cũng không đi chung mãi
Do đó
Hãy qúy những ngày bên nhau

ĐỗNguyễn

Tim ve Tran Nhan Tong


Cư Trần Lạc Đạo (phần văn xuôi)

Trich tu (1)

HỘI THỨ NHẤT

Thân hình tuy còn ngồi ở nơi thành thị, nhưng phong thái mình đã là phong thái của người sống ở núi rừng. Khi các nghiệp (thân, khẩu và ý) đã lắng xuống thì thể và tính mình đều được an tĩnh, chỉ cần nửa ngày thực tập thảnh thơi thì thân và tâm đều đã trở nên tự tại.

Khi nguồn suối tham ái dừng lại thì ta không còn nhớ tưởng tới chuyện châu yêu ngọc quý, lúc tiếng tranh cãi thị phi chấm dứt thì ta tha hồ nghe được tiếng hót ca của các loại chim yến chim oanh.

Có bao nhiêu người đắc ý khi có dịp đi du ngoạn và ẩn náu những nơi nước biếc non xanh, nhưng có bao nhiêu kẻ có khả năng thấy được tự tính của liễu lục hoa hồng ?

Hình ảnh trời xanh và trăng bạc soi chiếu xuống khắp mọi dòng sông thiền (đang lai láng), trong khi mặt trời trí tuệ chiếu xuống làm xanh tốt bao nhiêu cảnh liễu mềm hoa tươi.

Những người tu tiên vì muốn đổi cốt và phi thăng nên mới luyện thuốc thần đan để uống, vì muốn được trường sinh về thượng giới cho nên mới còn say mê đi tìm thuốc thỏ.

Trong khi ấy, người tu Bụt yêu chuyện đọc kinh xem luận, cho nếp sống thanh thản còn quý giá hơn cả hoàng kim.


HỘI THỨ HAI

Nên biết! Cái quan trọng nhất là làm cho tâm mình thảnh thơi, ngoài ra không có pháp môn tu học nào mầu nhiệm như thế.

Gìn giữ tính sáng thì mới mong đem tới cho ta an lạc. Ngăn ngừa vọng niệm thì vọng niệm không thể nào không dừng lại.

Vượt thoát được ý niệm ta và người thì thật tướng kim cương của tâm biểu hiện, chuyển hóa được hết tham sân thì mới thấy được diệu tâm viên giác.

Tịnh độ chính là tự tâm thanh tịnh của ta, không cần phải hỏi rằng có hay không có tịnh độ ở Tây phương. Di đà là tự tính sáng soi của ta, không cần phải nhọc nhằn tìm về một cõi Cực lạc ở đâu đó nữa.

Quán sát thân và tâm, luyện rèn tính và thức, để có an lạc cho ta mà không phải để khoa trương sự thực tập cho người thấy. Nghiêm trì giới hạnh, đối đầu với quỷ Vô thường, đây đâu phải là chuyện lợi danh buôn bán !

Ăn thì chỉ cần ăn rau trái, miệng không ngại những món đắng cay. Mặc thì chỉ chọn vải bố vải sồi, thân chẳng quản màu nâu màu bạc,

Chỉ cần sống vui được với đạo đức, thì nửa gian lều ở cũng còn quý hơn cả cung trời. Khi đã mến chuộng nhân nghĩa, thì ba phiến ngói còn yêu hơn cả lầu các.

HỘI THỨ BA

Một khi đạt được cái thấy biết, thì mọi lầm lỗi trong quá khứ sẽ biến thành hư không, và các phép luyện tập về ba học giới định tuệ sẽ được thông suốt.

Gìn giữ được tính sáng của chân tâm, thì không còn lạc vào con đường tà đạo, và do đó con đường tu học sẽ là con đường chính tông.

Bụt chỉ là tâm mình, ta hãy ướm hỏi theo cơ duyên thầy Mã Tổ. Đối diện với sắc tài, ta hãy học hỏi theo cách thức của cư sĩ Bàng Công.

Tự tính đã sáng trong, thì tài sản và tư lợi không còn là đối tượng của ham muốn, không cần phải bỏ lên cư trú ở Cánh Diều trên Yên Tử mới làm được như thế. Đề cao cảnh giác về thanh và về sắc, tà niệm sẽ dừng lại mà không còn lay chuyển được ta, chẳng còn phải trèo tới ngồi xuống ở am Sạn trên non Đông.

Tuy còn sống trong cõi trần tục mà ta vẫn thành công được trong sự tu tập, niềm hạnh phúc ấy ta yêu chuộng hết lòng. Dù có ở chốn núi rừng mà chưa có được tuệ giác, thì tai họa vẫn còn, thật chẳng đáng cho ta uổng phí công phu.

Nếu hết lòng phát nguyện cầu được thân cận minh sư, thì cho quả vị Bồ đề có thể trong nội một đêm mà chín, Có phúc được gặp gỡ người thiện tri thức, thì đóa hoa Ưu Đàm chẳng cần mấy kiếp cũng có thể đơm bông.


HỘI THỨ TƯ

Hãy tin! Một phen thấy được cái nhất tâm thì mọi phiền não lậu hoặc đều chấm dứt. Tam độc sẽ được chuyển hóa, và ta chứng được tam thân. Nếu muốn chấm dứt những sai lầm của lục căn thì phải biết nhận diện những hiểm nguy của lục tặc.

Kẻ tu Tiên khi tìm đường đổi cốt thì chỉ có biết con đường phục thuốc luyện đơn; còn người tu Bụt khi tham vấn về chân không, thì chẳng cần né tránh thanh và sắc.

Đã biết thật tính của chân như, đã tin vào tuệ giác Bát Nhã, thì không còn nhu yếu đi tìm Phật và Tổ dù ở phương Tây hay ở phương Đông. Đã chứng được thực tính, đã ngộ được vô vi, thì đâu còn phải nhọc công học hỏi kinh Thiền, dù truyền thống phương Nam hay phương Bắc ?

Khi học giáo lý tam tạng, tất là phải theo thanh quy của vườn Thiền, Lúc đốt trầm hương ngũ phận, chẳng cần tốn tiền mua sắm các loại chiên đàn.

Biết chất chứa nhân nghĩa, biết tu tập đạo đức, ai trong chúng ta mà lại không phải là Bụt Thích Ca? Biết nghiêm trì giới hạnh, biết chặt đứt ghen tham, những kẻ ấy không ai không là Bụt Di Lặc.


HỘI THỨ NĂM

Vậy mới hay: Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa.

Vì quên gốc nên ta có nhu yếu đi tìm Bụt, đến khi ta biết được rồi, thì Bụt chính là ta.

Chỉ cần nói và nghe dăm ba câu thiền ngữ, thì ta đã thấy mình đang rong chơi ở quê hương Hà hữu đích thực của mình rồi. Chỉ cần mở kinh ra xem vài lượt, là ta thấy ta đang ngồi nghỉ ngơi tại vương quốc Tân-La.

Sống trong đạo nghĩa, thực tập công án thiền, là ta đã lọt vào được và sống trong môi trường của Kinh và của Tổ. Xa được thị phi, lánh được thanh sắc, là ta không còn lạc đến những chốn dặm liễu đường hoa.

Đức của Bụt là từ bi, nguyện cho mình được gần gũi ngài trong nhiều đời nhiều kiếp. Ơn của Vua Nghiêu là lớn rộng, mong cho người tu hành không phải đóng thuế nộp sưu.

Áo và chăn chỉ cần cho ta đủ hơi ấm qua khỏi mùa lạnh, dù là chằm vá hay đơn sơ; cơm cùng cháo là để cho qua buổi khỏi phải đói lòng, dù là được nấu bằng gạo lức hay gạo hẩm.

Hộ trì tám loại tâm thức (nhãn thức, nhĩ thức, v.v..), chống được với tám ngọn gió (lời, lỗ, nhục, vinh, khen, chê, khổ, sướng) không phải bằng cách đè nén chúng. Làm bật trong huyền môn, trình bày ra ba yếu chỉ, bằng cách mài dũa và cắt xén từ từ.

Dù cây đàn không có giây, ta vẫn chơi và gảy lên được khúc ca vô sinh, dù ống địch không có lỗ, ta vẫn thổi xướng được khúc hát thái bình.

Xới bật rễ cây để tìm cành cây, đó là điều đáng tiếc của Câu chi trưởng lão, Quay đầu lại để nhìn vào bóng mình ở trong kính, đó là chuyện đáng cười của chàng Diễn Nhã Đạt Đa.

Chui lọt qua vòng Kim Cương, chuyện này không đủ để kẻ anh hùng lo sợ. Nuốt trọn vào vỏ trái lật, việc ấy chẳng khiến cho tay hào kiệt ngại phải xướt da.


HỘI THỨ SÁU

Đúng thế ! Chỉ cần thực tập vô tâm là tự nhiên ta được đi vào con đường chính đạo. Biết làm thanh tịnh ba nghiệp thì mới có được bình yên ở thân và tâm, tới được chỗ nhất tâm thì mới có thể thông đạt lời dạy của chư Tổ.

Kẹt vào văn chương, vướng nơi chữ nghĩa, kẻ thiền khách trở nên lạc lõng bơ vơ. Biết chứng nghiệm sự thật và hiểu thấu căn cơ, người xuất gia cần vững vàng và khôn khéo.

Khảo sát hữu lậu và vô lậu, phải bảo cho biết rằng cái rây thì lọt, mà cái vá (môi) thì không. Nghiên cứu tiểu thừa và đại thừa, phải nói cho hay rằng có khi cần cái lòi để xâu tiền, có lúc lại phải dùng sợi dây tơ để đan gàu múc nước.

Nhận cho được bản tâm sáng chói một cách rõ ràng thì không còn ngần ngại về thời tiết nhân duyên. Lau cho sạch đài gương chân tính thì không còn bị ảnh hưởng bởi những giác quan và đối tượng huyên náo của chúng.

Vàng mà chưa lọc hết quặng thì còn phải chín phen đúc, chín phen rèn. Lợi lộc mà chẳng còn đuổi theo thì vẫn sống, hạnh phúc với những gì đạm bạc.

Giữ cho tâm giới thanh tịnh, làm cho tướng giới sạch trong thì trong ngoài đều biểu hiện được tướng Bồ tát trang nghiêm. Ngay thẳng thờ vua, hiếu thảo thờ cha,thì khi đi hay lúc dừng đều chứng tỏ là mình bậc trượng phu trung hiếu.

Khi tham thiền cần thân cận bạn tu, ân tình phải biết đền đáp bằng thân bằng mạng. Lúc học đạo cần phải tìm cầu bậc thầy, đạo nghĩa phải nên báo đáp bằng xương bằng óc.

HỘI THỨ BẢY

Thế mới biết: phép Bụt rất sâu, có thực tập mới bắt đầu biết rõ.

Vô minh càng tan biến thì bồ đề càng sáng tỏ, phiền não càng chuyển hóa bao nhiêu thì đạo đức càng ham chuộng bấy nhiêu

Nghiên cứu và thực hành theo nội dung Kinh văn thì lời Bụt dạy mới có thể dễ dàng lĩnh hội. Học hỏi và bắt chước pháp môn của Tổ, thì ý chỉ Không của Thiền mới không còn là con đường bí hiểm khó hiểu khó nhận ra.

Đi cho tới chỗ tận cùng nơi căn bản, làm cho rã ra mọi mối khách trần phiền não, đừng để cho một mảy vụn nào còn có mặt. Xô cho ngã xuống ngọn cờ chiến thắng, làm cho vẹn toàn mọi tri kiến, đừng để cho một tai họa nào còn có thể ẩn núp trong hai cánh tay.

Phóng lửa giác ngộ, đốt cho cháy hết tất cả các rừng tà kiến chất chứa từ bao nhiêu ngày trước. Cầm kiếm trí tuệ, diệt cho tới cùng những nhận thức sai lạc vẫn còn sót lại hôm nay.

Nhớ ân nghĩa các bậc thánh tăng, yêu thương mẹ cha, theo chí thờ thầy mà học đạo. Yêu chuộng đức độ của Bụt Gotama, tránh con đường hưởng thụ, một lòng giữ giới và ăn chay

Cảm được đức từ bi, kiếp kiếp nguyền xin cho thân cận. Nhớ mãi công cứu độ, dù có phải đời đời chịu đựng đắng cay.

Nghĩa xin nhớ, đạo không quên, hương hoa cúng dường chỉ là để tượng trưng lòng hiếu thảo. Nói rằng tin mà lòng chưa thật, dù có vàng có ngọc cũng chưa hẳn là dạ thẳng ngay.

HỘI THỨ TÁM

Vì thế: Chỉ nên tập rèn, đừng bỏ học hỏi.

Lay cho ý thức tỉnh dậy, đừng để nó khư khư nắm giữ Buông bỏ vọng niệm, chớ để chúng trạo cử lăng xăng.

Chìm đắm trong công danh đó những kẻ ngây thơ dại dột. Nuôi lớn lên phước tuệ, đây những ai trí tuệ thực tài.

Bắc cầu, đưa đò, dựng xây chùa tháp, đó là những gì ta có thể tu bổ và làm đẹp về phương diện hình tướng bên ngoài. Bồi đắp hỷ xả, nuôi dưỡng từ bi, đây là những gì đưa tới giải thoát nội tâm khi kinh Lòng thường được đọc tụng.

Luyện tâm thành Bụt, thì chỉ cần một yếu tố giồi mài. Đãi cát kén vàng, cố nhiên phải qua nhiều phen lựa lọc

Xem kinh, đọc lục, làm cho cả hai cái (thấy) và (biết) đều được ngang nhau. Kính Bụt, tu thân, đừng xem thường những điều nhỏ nhặt.

Đi cho tới chốn tận cùng của ngữ ngôn và văn cú, đừng có một giây phút nào e ngại, Phát hiện cho được các thiền cơ, chớ để cho tám ý niệm ra vào.



HỘI THỨ CHÍN

Ta nên biết: Các phép thiền cơ mà chư Tổ đem dạy, tuy có nhiều đường, nhưng cũng không khác nhau bao nhiêu gang tấc,

Hãy chỉ nói tới những công án từ thiền sư Mã Tổ về sau, cần nhớ chi những gì đã xảy ra từ thời Lương Võ Đế.

“Công đức gì đâu !” thói quen bị kẹt làm cho si mê càng lúc càng thêm dày đặc. “Chẳng có gì là thiêng liêng”, “Tôi không biết !” những lời thiền ngữ ấy lỗ tai của người phàm phu vẫn còn nghe dư âm.

Sinh ở Thiên Trúc, chết tại Thiếu Lâm, tổ Bồ đề Đạt ma được mai táng sơ sài dưới chân núi Hùng Nhĩ. “Thân là cội bồ đề, tâm là đài gương sáng”, bài kệ làm cho dơ mặt vách chốn hành lang.

Vương lão chém mèo, thiền sư đi thấu qua tâm ý còn đầy nghi vấn của cả hai ngài thủ tọa. Thầy Hồ khua chó, thiền sư cho thấy cái thấy con nít của giới môn đồ.

Giá gạo ở chợ Lư Lăng cao quá, mà không cho phép người mua mặc cả. Đường đá ở núi Thạch Đầu trơn lắm, sự nghiệp thiền sư Tây Thiên khó mà tiếp nhận và thừa đương.

Phá Táo cất bỏ cây cờ, dẹp bỏ miếu thiêng nơi có sát sinh cúng tế. Câu Chi đưa ngón tay trỏ lên, áp dụng theo phương pháp giáo hóa của cha ông.

Lưỡi gươm Lâm Tế, cây nạng Bí Ma, giới xuất gia ngày xưa được giáo dưỡng đàng hoàng cho nên đã đạt tới nhiều tự tại. Sư tử ông Đoan, trâu thầy Linh Hựu, người cư sĩ bây giờ được nhắc nhở đã không mắc vào lỗi hợm hĩnh nghênh ngang.

Đưa phiến tử, cất trúc bề, để giúp kẻ thiền sinh chứng ngộ. Xô hòn cầu, cầm vá gỗ, nhắc tăng chúng đừng có mưu kế khoe khoang.

Thiền Tử dù có rà chèo, dòng sông xanh vẫn chưa giúp mình tẩy tịnh. Đạo Ngô có ra múa hốt, trò hề vẫn không che dấu được tài năng.

Rồng Yển lão nuốt cả đất trời, làm người ta sợ hãi. Rắn Ông Tồn vắt ngang thế giới, khiến thiên hạ tránh sang bên

Cây bách chính là bản tâm - muốn thấy phải ra nhìn sao Thái Bạch. Bính Đinh cũng thuộc về lửa - nhờ tìm về sao Bắc Đẩu mới khỏi lạc đường.

Trà Triệu Châu, bánh Thiều Dương, tuy đầy đủ, nhưng thiền sinh vẫn còn đói khát. Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, dầu mênh mông, mà tăng chúng cứ để bỏ hoang.

Liệng bó củi, thổi tắt đèn, nhờ đó mà đạt đạo. Nhìn hoa đào, nghe tiếng trúc, do vậy mà chứng nên.




HỘI THỨ MƯỜI

Xin lắng nghe: Chỉ cần tỏ ngộ về chân không, không cần phải căn cơ, pháp khí.

Vì lòng ta còn vướng chấp cho nên chưa thông đạt. Đó không phải là công án của chư Tổ không có hiệu lực

Cái biết của chúng Tiểu Thừa chưa được đến nơi đến chốn, nên Bụt không ngại tạo nên Bảo sở và hóa thành. Cái chứng ngộ của đấng Thượng Sĩ sở dĩ mà thành công, đó không phải do thực tập ở núi cao hay nơi thành thị

Núi hoang rừng vắng, ấy là nơi của các bậc dật sĩ tiêu dao, Chùa vắng am thanh, đó đích thực là nơi các bậc dị nhân ưa thích.

Dù ngựa cao lọng lớn, những kẻ nghênh ngang kia khi chết xuống cõi âm cũng phải đối diện với Diêm vương. Gác ngọc lầu vàng, những kẻ sang giàu ác độc khi hết đời cũng phải vào trong địa ngục.

Đam mê danh lợi, thổi phồng nhân ngã, đó đích thực là những kẻ phàm phu. Mến chuộng đạo đức, chuyển hóa thân tâm, đây quyết định đưa về thánh trí.

Mày ngang mũi dọc, tướng tuy khác nhưng vẫn như nhau, Mặt thánh lòng phàm, thật và giả cách nhau vạn dặm.



KỆ

Cư trần lạc đạo hãy tùy duyên
Hể đói thì ăn, mệt ngủ liền
Châu báu đầy nhà, đừng kiếm nữa
Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền !
--
http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-van-xuoi

Tìm về Trần Nhân Tông

Ta đi nghỉ sau một ngày đã sống
Tìm hiễu vài chi trong thập nhị nhân duyên
..
Hi Ngộ
Anh đi nghỉ, gặp em sau..

DoNguyen

Cư Trần Lạc Đạo (nguyên văn)

Trích từ trang (1)

Bài Cư Trần Lạc Đạo là của một vị vua xuất gia viết, đó là vua Trần Nhân Tông. Sau khi xuất gia, vua có hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ. Bài này là trái tim của Trúc Lâm Đại Sĩ, và trong địa vị văn học, đây là sáng tác tiếng Nôm đầu tiên tại Việt Nam.
Cư Trần Lạc Đạo là một bài phú gồm mười Hội, trình bày phương pháp tu tập của Trúc Lâm Đại Sĩ. Khi đọc bài này tôi rất xúc động, tựa như mình đang đi vào trái tim của người xưa để thấy được tình thương và tuệ giác của một vị tổ sư.

HỘI THỨ NHẤT


Mình ngồi thành thị; nết dùng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý; biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm!
Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng; liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.
Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục; nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đam.
Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu; kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.

HỘI THỨ HAI
Biết vậy! Miễn được lòng rồi; chẳng còn phép khác.
Gìn tính sáng, tính mới hầu an; nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương; dừng hết tham sân, mới lảu lòng mầu viên giác.
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;
Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc.
Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe; cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác.
Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc.
Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nữa thiên cung; dầu hay mến thửa nhân nghì, ba phiến ngói yêu hơn lầu gác.


HỘI THỨ BA
Nếu mà cóc, tội ắt đà không, phép học lại thông.
Gìn tính sáng mựa lạc tà đạo; sửa mình học cho phải chính tông.
Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã tổ; vong tài đối sắc ắt tìm cho phải thói Bàng công.
Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh-diều Yên-tử; răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông.
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc; sơn lâm chẳng cóc, họa kia thực cả đồ công.
Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chín; phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đơm bông.

HỘI THỨ TƯ
Tin xem! Miễn cóc một lòng; thì rồi mọi hoặc.
Chuyển tam độc mới chứng tam thân; đoạn lục căn nên trừ lục tặc.
Tìm đường hoán cốt, chỉn sá hay phục thuốc luyện đơn; hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.
Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây Đông; chứng thực tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc.
Xem tam tạng giáo, ắt học đòi thiền uyển thanh quy; đốt ngũ phận hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc.
Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích-ca; cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di-lặc.

HỘI THỨ NĂM
Vậy mới hay: Bụt ở cong nhà; chẳng phải tìm xa.
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; đến cóc hay chỉn Bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãn cong quê Hà hữu; kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân-la.
Cong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ; lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.
Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận; ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xễ; cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.
Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội; lãy tam huyền, nông tam yếu, một cắt một ma.
Cầm vốn thiếu huyền, sá đàn dấu xoang vô sinh khúc; địch chẳng có lỗ, cũng phiếm chơi xướng thái bình ca.
Lãy cội tìm cành, còn khá tiếc Cu-chi trưởng lão; quay đầu chớp bóng, ắt kham cười Diễn-nhã-đạt-đa.
Lọt quyển kim cương, há mặt hầu thông nên nóng; nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da.


HỘI THỨ SÁU
Thực thế! Hãy sá vô tâm, tự nhiên hợp đạo. Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm; đạt một lòng thì thông tổ giáo.
Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên thiền khách bơ vơ; chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo.
Han hữu lậu han vô lậu, bảo cho hay the lọt duộc thưng; hỏi đại thừa hỏi tiểu thừa, thưa thẳng tắt lòi tiền tơ gáo.
Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại hề thời tiết nhân duyên; chùi cho vặc vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.
Vàng chưa hết quặng, sá tua chín phen đúc chín phen rèn; lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay một thì cháo.
Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm; ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân; học đạo thợ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo.


HỘI THỨ BẢY
Vậy mới hay: Phép Bụt trọng thay; rèn mới cóc hay.
Vô minh hết bồ đề thêm sáng; phiền não rồi đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu; học đòi cơ tổ, sá thiền không khôn chút biết nay.
Cùng căn bản, rữa trần duyên, mựa để mấy hào ly đương mặt; ngã thắng tràng, viên tri kiến, chớ cho còn họa trữ cong tay.
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước; cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thuở nay.
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận; đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ, đạo chăng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo; miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.


HỘI THỨ TÁM
Chưng ấy: Chỉn sá tua rèn; chớ nên tuyệt học.
Lay ý thức chớ chấp trằng trằng; nén niềm vọng mựa còn xóc xóc.
Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ; phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cóc.
Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu; săn hỷ xả, nhuyến từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc.
Rèn lòng làm Bụt, chỉn sá tua một sức giồi mài; đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lừa lọc.
Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay; trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.
Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo; lật thửa cơ quan, mà còn để tấm hơi lọt lọc.

HỘI THỨ CHÍN

Vậy cho hay: Cơ quan tổ giáo, tuy khác nhiều đàng, chẳng cách mấy gang.
Chỉn sá nói từ sau Mã Tổ; ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi; quách nhiên bất thức, tai ngu mãng ắt còn vang.
Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ; thân bồ đề, lòng minh kính, bày dơ mặt vách hành lang.
Vương lão chém mèo, lượt trẩy lòng ngừa thủ tọa; thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.
Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ưa, chẳng cho mà cả; sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.
Phá táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần vật; Cu Chi dơ ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang.
Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại; sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm sá nghênh ngang.
Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn; xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.
Thuyền tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy; Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.
Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ; rắn Ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang.
Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái bạch; bính đinh thuộc hỏa, lại trở sau lỗi hướng thiên cang.
Trà Triệu lão, bánh Thiều dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát; ruộng Tào khê, vườn Thiếu thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang.
Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nết; lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.

HỘI THỨ MƯỜI


Tượng chúng ấy: Cóc một chân không; dùng đòi căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông; há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cóc hay chửa đến, Bụt sá ngăn Bảo sở hóa thành; đấng Thượng Sĩ chứng thực mà nên, ai ghẻ có sơn lâm thành thị.
Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao; chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.
Ngựa cao tán cả, Diêm Vương nào kể đứa nghênh ngang; gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý.
Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu; say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí.
Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bẳng nhau; mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý.


KỆ KẾT THÚC


Cư trần lạc đạo thả tùy duyên.
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch;
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

--
(1)
http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/trai-tim-cua-truc-lam-dai-si/cu-tran-lac-dao-phan-nguyen-van

Tuesday, 24 March 2015

Lý Quang Diệu vừa mất
Ông này thật là giỏi
Sau đây là tên 1 cuốn sách của LQD:
Hồi ký Lý Quang Diệu

Theo vị chuyên gia người Việt, có ba nguyên tắc được ông Lý thực thi để xây dựng nhà nước mạnh tại Singapore - trọng hiền tài, thực dụng và trung thực.
--
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2015/03/150319_vuminhkhuong_lyquangdieu

Monday, 23 March 2015

Cùng đi bên Em- bài thơ xưa

Biển Cửa Đại quê ta



Cùng đi bên Em

Mùa thu một sáng lên đường,
Nghe em vẫy gọi dặm trường có theo?
Xe băng băng vượt núi đèo,
Đôi khi net củng thương tình nối cho.
Được gần nhau mãi líu lo,
Làm vơi nỗi nhớ những giờ xa nhau..

ĐỗNguyễn
Đi xưống biển Nam với Mit, bài thơ tháng 5.2015

Sáng

em đến thăm anh..

Sáng

Khuya qua anh đi ngủ sớm hơn lệ thường
Buổi sáng tám giờ đã thức giấc
Rửa chén bát son chảo hôm qua
Nghe radio đài SWF
Trong room lướt qua các đề sách chưa từng đọc
Về phật pháp để trên trang web của anh Bình

Trước khi đi đọc sách
Anh viết blog cho Ngộ..
Mong em khỏe mạnh an vui
Ngày hôm nay..

ĐỗNguyễn

Sunday, 22 March 2015

Đèn trí tuệ

 anh thích nghe bài này..mời Ngộ cùng nghe..

Sáng thứ hai nghe còi tàu bên Ngộ

Đèn
khuya
mang
ánh
sáng
cho
đêm
tối

Tình
yêu
trong
tiếng
còi
tàu
hụ
buổi
sáng

Xa
xăm

ĐỗNguyễn





Thái Độ Chân Chánh

Hội an quê nhà.. ước mơ được cùng nhau về thăm Hội an..

Ngộ thương,
Ông Tejaniya hay nhắc đến cụm từ thái độ chân chánh trong khi thiền Vipassana. Do do, anh dán lên để tham khảo.
ĐN

Thái Độ Chân Chánh

(Yoniso manasikāra)
U. Tejaniya


Có tâm thư giãn và hay biết là điều vô cùng quan
trọng, nhưng được có thái độ chân chánh, gìn giữ tâm mình
nằm trong khuôn khổ chân chánh, quả thật rất thiết yếu cho
công trình hành thiền.

Thái độ chân chánh là thế nào?

Có thái độ chân chánh là có lối nhìn sự vật khiến mình
an vui, thoải mái, và cảm nghe thanh bình thơ thới với bất
luận gì mình đang kinh nghiệm. 

Suy tư và nhận thức sai lầm mê muội dễ cho ô nhiễm ảnh hưởng
đến tâm tánh và thái độ mình.

Tất cả chúng ta đều có thái độ sai lầm; điều đó không
thể tránh. Như vậy chớ nên cố gắng tạo cho mình thái độ
chân chánh, hãy cố gắng nhìn nhận nếu ta có thái độ bất chân
chánh hay thái độ chân chánh.

Hay biết khi ta có thái độ chân chánh là rất quan trọng, nhưng càng
quan trọng hơn nữa là nhìn nhận và tìm hiểu thái độ bất chánh của ta.
Hãy cố gắng hiểu biết thái độ bất chánh của ta; cố tìm xem nó ảnh
hưởng đến pháp hành của ta như thế nào, và nhìn thấy nó tạo
cho ta những cảm giác gì. Như vậy, hãy tự quán chiếu và cố
gắng xem trạng thái tâm nào mình đang nhìn để thực hành.

Thái độ chân chánh giúp cho ta chấp thuận, thừa nhận
và quán sát bất luận gì xảy diễn -- dầu thích thú hay buồn khổ
-- một cách thản nhiên và giác tỉnh.

Ta phải chấp nhận và quán sát cả hai, những kinh nghiệm thích thú
và những kinh nghiệm buồn khổ.

Mỗi kinh nghiệm, dầu tốt hay xấu, đều
cho ta cơ hội học hỏi để ghi nhận xem tâm có chấp nhận sự
vật đúng như sự vật là vậy không, hoặc nó sẽ ưa thích, ghét
bỏ, phản ứng, hay xem xét.

Ưa thích vật gì có nghĩa là ta ham muốn vật ấy, không
ưa vật gì có nghĩa là ta ghét bỏ. Ham muốn hay ghét bỏ đều
là ô nhiễm phát sanh từ si -- si hay ảo tưởng cũng đều là ô
nhiễm.

Như vậy, không nên cố gắng tạo gì. Cố gắng tạo điều
gì là tham. Không nên loại bỏ điều gì xảy ra, loại bỏ những gì
xảy ra là sân. Không hiểu biết điều gì xảy ra là si.

Không nên cố gắng làm cho sự vật trở nên như ý ta
muốn. Hãy cố gắng hiểu biết điều gì xảy ra, đúng như nó là
vậy. Nghĩ rằng sự vật phải như thế nầy hay thế kia, muốn
điều nầy hay điều kia xảy diễn hay không xảy diễn, là mong
cầu. Tâm mong cầu, tham vọng, là nguyên nhân làm phát
sanh lo âu phiền muộn và đưa đến sân hận.

Điều quan trọng là ta phải hay biết thái độ của mình.
Xét đoán và không vừa lòng với pháp hành của mình
là thái độ không chân chánh. Trạng thái bất mãn phát sanh,
hoặc do ý nghĩ rằng sự vật xảy ra không giống như theo ý ta
nó phải là vậy, hoặc do ý muốn nó phải khác, hoặc do si mê
không biết đúng ra pháp hành phải như thế nào. Những thái
độ như thế nhốt cái tâm lại, gài kín, và gây trở ngại cho pháp
hành của ta.
Hãy cố gắng nhận thức tình trạng bất toại
nguyện của mình, chấp nhận hoàn toàn, và minh mẫn quán
sát. Trong tiến trình nhận xét và tìm hiểu những cảm thọ bất
toại nguyện, ta sẽ thấy rõ nguyên nhân của nó. Khi thấu hiểu
nguyên nhân, biết rõ tại sao mình không vừa lòng, là ta đã giải
quyết vấn đề, nó sẽ không còn trở lại nữa. Càng lúc ta càng
thấy rõ ràng hơn nguyên nhân làm phát sanh lòng bất toại
nguyện trong thân và trong tâm mình. Ta sẽ thận trọng xem
xét tâm mình mỗi khi xét đoán điều gì và dần dần gội rửa, dứt
bỏ mọi sai lầm và bằng cách đó tâm trở nên tinh xảo hơn trong
khi phải đối phó với ô nhiễm, gặp phải những trường hợp bất
toại nguyện.

Nguyên nhân làm khởi sanh thái độ không chân chánh
là tâm si mê. Mọi người chúng ta đều có tâm si. Tất cả
những thái độ bất chánh của ta là hậu quả của các ô nhiễm
tham và sân hoặc nữa cũng là thân bằng quyến thuộc của
chúng, như lòng phấn khởi hân hoan, hay âu sầu phiền muộn,
hoặc lo âu. Không chấp nhận ô nhiễm chỉ làm cho chúng tăng
thêm sức phá rối. Các ô nhiễm cản ngăn bước tiến của pháp
hành và gây trở ngại, không để cho ta sống đầy đủ. Nó cũng
cản ngăn, không để cho ta tìm cuộc sống thật sự an lành và tự
do. Chớ nên xem thường ô nhiễm, chúng nó sẽ cười chế nhạo
ta.
Ta hãy thận trọng canh chừng, chuyên chú đề phòng
ô nhiễm, phải sáng suốt nhận diện những ô nhiễm phát sanh
trong tâm. Hãy cố gắng quan sát và hiểu biết, nhưng không
nên dính mắc với chúng, hãy thoáng nhìn rồi phớt lờ, bỏ qua,
không nên xem nó là chính mình. Khi ta không còn dính mắc
và tự đồng hóa với chúng, thì ô nhiễm sẽ dần dần giảm bớt
sức lôi cuốn. Chừng đó ta hãy cẩn mật tự quán chiếu, xem lại
mình đang hành thiền với thái độ gì.

Hãy lập tâm, luôn luôn nhớ nằm lòng rằng thiền minh
sát là tiến trình liên tục theo dõi và hiểu biết mối liên quan
giữa tâm và thân. Hãy giữ tâm tự nhiên bình thản và đơn
giản, không cần phải làm cho pháp hành chậm lại một cách
không tự nhiên. Ta chỉ giản dị tìm hiểu và thấy sự vật đúng
như sự vật là vậy.

Hãy ghi nhớ, đừng quên rằng đối tượng của sự chú
niệm không quan trọng, chính cái tâm quan sát ẩn tàng nằm
phía sau đang hoạt động thế nào mới thật sự là quan trọng.
Nếu ta quan sát với thái độ chân chánh thì đối tượng sẽ đúng
là đối tượng chân chánh. Ta có thái độ chân chánh không?