Saturday, 5 December 2020

Châu Đình


 

1

Châu Đình

Tự do!

Lý tưởng của em 

và tuổi trẻ Hồng kong

Cảm phục em và bạn bè của em!


2

DeLonghi

là máy cà phê espresso

Hôm nay tình cờ mua được

Tìm hiểu và đã dùng được!

Máy làm tại Thụy sỹ

Có lẽ sài bền!


3

Sophie

Thì ra khi Sophie 17 tuổi

Đi đại hội năm ấy!

Đúng là quả đất tròn!

Friday, 4 December 2020

Blumenkohl

 


 

Blumenkohl

 

Luộc xong nó

Xào chung với hành tỏi 

Nấu cơm

Ăn chung

và chén nước mắm chanh ớt


DN

món nước mắm Ngộ

đã bày!

Nr.7


 

Lần 3

 

Lần 1

Không còn Nr.7

 

Lần 2

Hàng chưa tới

 

Lần 3

Thứ sáu

Hàng đã về!

 

DN

lâu rồi không thưởng thức mùi vị của Nr.7.

Khá nhớ

Exel và Ngộ


 

Exel

Làm liste sách cho vào exel

Bổng gặp sách thơ của Ngọc Quế

Cuốn:

Hạt cát dòng sông

 

Ta lại nghĩ về ĐNgộ

Về ngôi chùa ở Hội An, Huế của em!

DN

Thursday, 3 December 2020

Giay hay sach?




Có sách hay có giấy?

..

Sách mà không đọc

thì chỉ là giấy!

chỉ tổ làm chật nhà!

..

Sách pdf mà không đọc

Thì chỉ là bit và byte

Vô ích

DN

12 cách để viết một bài văn hay

 


12 cách để viết một bài văn hay và chất lượng/ theo toplist vn


I/ Từ xưa đến nay, môn văn là môn “khó nuốt” của rất nhiều bạn, đặc biệt là các bạn học các khối khoa học tự nhiên.

II/ Bạn không cảm thấy hứng thú với việc học văn, những giờ học trên lớp thật là một khó khăn, chán nản và buồn ngủ.

III/ Điều dễ hiểu, các bài tập làm văn vì thế mà điểm số sẽ không cao.

IV/ 11 kinh nghiệm sau đây sẽ giúp bạn viết một bài văn hay hay và điều đầu tiên: cải thiện dần số điểm hiện tại của bạn, cách viết của bạn sẽ mượt mà, trôi chảy, bạn sẽ không còn cảm thấy khó khăn với việc học văn nữa.

 

 

1

 

Đọc sách

I/ Sách là kho tàng vô giá của nhân loại. Nó chứa đựng một lượng kiến thức đồ sộ thuộc hàng bậc nhất. Không chỉ vậy sách còn là nơi đúc kết kinh nghiệm sống quý giá. Với việc đọc sách thường xuyên, bạn sẽ tích lũy cho mình được một lượng
kiến thức phong phú.

II/ Muốn có viết được một bài văn hay, điều đầu tiên bạn cần thực hiện là đọc sách. Đó có thể là sách giáo khoa, sách văn mẫu, sách tham khảo… Trước hết, bạn cần tìm thể loại sách phù hợp với sở thích của mình để tránh sự nhàm chán, đơn điệu.

III/ Có thể, một, hai ngày đầu bạn cảm thấy đọc sách là việc rất buồn ngủ… Sau một thời gian tập dần thói quen đọc sách, mỗi ngày một ít bạn sẽ thấy việc đọc sách rất hữu ích.

IV/ Bạn nâng dần sự say mê, thích thú khi khám phá ra một đoạn văn hay, một câu trích dẫn thú vị hoặc đôi khi chỉ là cách dùng từ “độc”, cách chấm câu để lại nhiều suy nghĩ trong lòng người đọc.

V/ Mỗi lần đọc là một lần bạn đưa ra những cảm nhận, trải nghiệm khác nhau; càng đọc càng hiểu, càng muốn tìm hiểu sâu về chủ đề đó. Ông bà ta có câu “mưa dầm thấm lâu, cày sâu cuốc bẩm” là vậy.

Tóm: Đc sách là mt phương pháp hu hiu giúp bn viết được mt bài văn hay.


 

2

 

Theo dõi tin tức xã hội

I/ Tin tức xã hội có từ đâu? Nó có từ việc theo dõi các kênh truyền hình, báo chí, internet… Bằng việc cập nhật tin tức hằng ngày bạn sẽ nắm bắt nhanh nhạy lượng thông tin khá thích hợp với các dạng bài văn thuộc dạng nghị luận xã hội. Những thông tin có được sẽ là dẫn chứng quan trọng, sinh động, sát với thực tế xã hội, có tính thuyết phục người đọc cao.

II/ Để làm được điều này, trước khi đưa vào bài viết bạn cần phải xem xét độ tin cậy của lượng thông tin.

III/ Không phải thông tin nào cũng đưa vào để dẫn chứng mà cần phải xem xét thông tin đó đã là xác thực chưa, nên tìm đọc từ các trang báo chính thống.

IV/ Lượng thông tin bạn đưa ra không chỉ ảnh hưởng đến chính bản thân bạn mà còn ảnh hưởng tới người tiếp nhận thông tin. Cần quan tâm tới khâu này bạn nhé!

Tóm: Theo dõi tin tc trên báo chí.

 

 

3

 

Đọc kỹ đề bài trước khi làm bài

I/ Đây là điều đặc biệt quan trọng cần phải thực hiện trước khi bắt đầu vào làm bài.

II/ Bạn cần đọc kỹ, chi tiết nội dung đề bài yêu cầu như thế nào để hiểu cho đúng, chính xác vấn đề mà giáo viên đưa ra (cần phân tích, chứng minh hay bình luận…)
nhằm tránh lạc đề, lan man.

Tóm: Cn đc k yêu cu ca đ bài.

 

4

 

Lập dàn ý

I/ Muốn có một bài văn tốt cần lập dàn ý bằng việc gạch đầu dòng các ý cần triển khai vào giấy nháp để đảm bảo trình tự làm ý nào trước ý nào sau; phân chia bố cục hợp lý, đảm bảo nội dung, tránh tình trạng thiếu trước hụt sau.

II/ Bạn cần hiểu rằng: việc lập dàn ý giống như vạch định cho mình một kế hoạch, các bước đi khoa học dễ dàng thực hiện ý tưởng đã được định hình sẵn.

Tóm: Ví d: lp dàn ý bng sơ đ cây.

 


5

Phân chia thời gian hợp lý

Nhằm tránh việc thiếu hoặc thừa thời gian, bạn cần phân chia các khoảng thời gian nhất định cho mở bài, thân bài, kết bài; bao nhiêu thời gian là phù hợp? (thân bài thường chiếm một nửa thời gian, còn lại là mở bài và kết bài).

Tùy vào khoảng
thời gian được yêu cầu mà phân chia cho hợp lý.

Tóm: Phân chia thi gian hp lý.

 

6

 

Chú trọng vào mở bài

I/ Mở bài tốt sẽ tạo ấn tượng tốt cho giáo viên chấm bài, vì vậy bạn nên bỏ thời gian viết nháp trước ra giấy mở bài cho súc tích, thu hút người đọc.

II/ Có nhiều cách mở bài rất đa dạng: so sánh, đi từ khái quát đến cụ thể… Bạn cũng có thể dẫn ý từ một câu nói, một trích dẫn… để mở bài ấn tượng hơn.

Tóm: Mt cách m bài hay.

 


 7

Đảm bảo nội dung

I/ Thân bài: tuyệt đối phải đảm bảo nội dung theo đúng yêu cầu của đề bài đưa ra, bao gồm những nội dung gì, bạn cần phải giải quyết, bao quát hết tất cả nội dung đó.

II/ Đồng thời, bạn cũng cần phân chia nội dung từng ý cho phù hợp tránh tình trạng ý đầu viết quá chi tiết, những ý sau lại sơ sài, qua loa… không tạo được sự cân xứng, hài hòa cho cả bài văn.

Tóm: Ni dung đm bo thì bài văn mi đi vào trng tâm ca yêu cu.


 

 

8

 

Chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ

I/ Nội dung có tốt bao nhiêu nhưng hình thức trình bày không đẹp có thể dẫn đến mất điểm hoặc điểm không cao, khó gây ấn tượng tốt đối với người chấm.

II/ Bạn cần rèn chữ viết, có thể không đẹp nhưng chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc, trình bày sạch sẽ, không được tẩy xóa, bôi đen, gạch bỏ lung tung trong bài làm… Vì như vậy sẽ không tạo được sự liên kết giữa các câu, đồng thời cũng cho thấy bạn cẩu thả trong trình bày.

Tóm: Ch viết: có th không đp nhưng phi rõ ràng, d đc.


 

 

9

Cần biết biến tấu ý tưởng của người khác thành của mình

I/ Muốn thực hiện được điều này, bạn cần phải đọc nhiều.

II/ Sau đó sẽ ghi chép lại vào một cuốn sổ, lúc cần thì tìm cho tiện.

III/ Bạn nên đọc đi đọc lại, có thể nhớ đại ý nội dung, sau này dùng làm dẫn chứng cho bài viết rất thích hợp.

IV/ Bạn cần hiểu rằng: viết một bài văn cũng giống như nấu một món ăn, cần có nguyên liệu, xào nấu, nêm gia vị vừa ăn để trở món ăn trở nên ngon, hấp dẫn.

V/ Mỗi người – một suy nghĩ – một cách hành văn khác nhau, bạn nên chắt lọc, học hỏi kỹ năng, biến tấu những ý tưởng hay, đúc kết lại thành cái của mình để nâng dần khả năng viết lách, kiến thức tích hợp vì thế cũng đa dạng hơn.

Tóm: Sáng to trong cách hành văn là mt ý tưởng khá thú v.


 

10

 

Kiểm tra chính tả, ngữ pháp

I/ “Phong ba bão táp, không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Điều này không quá khó nhưng cần có sự rèn luyện thì mới thành thạo được, không ai tự dưng trưởng thành mà không có quá trình khổ luyện cả.

II/ Khi hoàn thành xong bài viết, bạn không nên vội nộp bài cho giáo viên mà cần đọc lại toàn bộ bài viết để xem có bị mắc lỗi chính tả nào không.

III/ Yêu cầu khắt khe của viết văn là không nên mắc lỗi chính tả dù là nhỏ nhất, cần phải đúng chuẩn của tiếng Việt, không được viết tắt. Vì nếu sai chính tả bạn sẽ mất thiện cảm, không tạo được cảm hứng thân thiện cho người chấm. Đây là một mắc xích quan trọng không thể bỏ qua bạn nhé!

Tóm: Chú ý vào li chính t.


 

11

 

Trích dẫn

I/ Muốn đạt điểm cao, bạn nên chú ý đến việc trích dẫn, đưa vào bài viết những câu nói hay, phải ghi nguồn cụ thể (được trích ra từ đâu, nếu là câu nói thì phải chú thích tên người đó).

II/ Điều này không chỉ thể hiện là một người ham đọc sách, có kiến thức phong phú mà còn là một người có kỹ năng viết bài khá tốt, có sự tìm tòi, nghiên cứu.

III/ Việc trích dẫn phải phù hợp mới tạo được điểm nhấn, điểm cộng cho bài viết, không nên quá lạm dụng khi nào cũng trích dẫn.

Tóm: Mt cách trích dn hay.

 

12


Kết:

“Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Tôi tin là với 11 kinh nghiệm trên sẽ là động lực để giúp bạn thêm yêu thích môn văn, cải thiện dần số điểm. Việc học văn của bạn vì thế sẽ không còn đơn điệu, nhàm chán nữa nhé. 

--

Theo toplist vn

Wednesday, 2 December 2020

Viec thu 3


 

 

Hôm nay đã làm 2 việc

Tối nay,

còn việc thứ 3:

dọn dẹp nhà cửa!

Buu dien thong cam


 

Trời lạnh

Đạp xe nghe gió thổi mát da mặt

Vẫn tới nơi

Gặp ông bưu điện hiểu biết

Thế là loay hoay chừng 30 phút

Mọi chuyện cũng xong!


DN

Tuesday, 1 December 2020

Vô tác

 


 

Một ngày đã qua

 

Trước khi đi ngủ

Có ai nhắn giùm

Ngày nay vô tác

Thế là cũng đủ

 

DN


Đến Post

 


1

Đi được vào post

Hôm nay dòng người chờ không nhiều

Lo lắng về cái nhận được tiêu tan

Mà thay vì nó

Là sự tiếc

Vì bưu phẩm hoàn quy!

Vui thôi!

 

2.

Tin tức:

Hàng ngàn người Indonesia sơ tán do núi lửa phun trào

..

Chim khôn chọn nơi để đậu

Không nên sống nơi có hiểm họa:

chiến tranh 

núi lửa

bão lụt..



 

 


Trời xám xịt

 


Thức dậy

 
Trời xám xịt
Nhưng may quá
Vẫn có khói bay lên từ
các mái nhà ngói đỏ

DN

Monday, 30 November 2020

Về nhà

 


về nhà

ngồi trên ghế thỏa mãn

sau buổi đi nhà bank

khi trời tối tháng 11 lạnh lẽo

rồi đạp xe đến siêu thị

mua và mang 7 kg thức ăn uống đi về

leo len lầu 4

Làm cho tủ lạnh lại đầy!

Vui lắm thay!

DN

pandemic/ post

 

 
 
 
 
Pandemic/ Post
 
Mình mới ra bưu điện đia phương ở đường Senefelder.
Mọi người xếp hàng dài chừng 20 m.
(bên ngoài).
Dự tính đến lấy thơ bảo đảm, nhưng quay về.
Sẽ quay lại lấy thư lần sau vậy.
 
Ngoài trời khá lạnh..
Nên mình vào EKEKA mua 1 lọ Schlesische Gurken-happen.
Nấu cơm ăn với món này rất tuyệt!
 
 
3 điều sai của Mit vừa qua
 
1. nghĩ sai về người bạn của mình.
2. chủ quan do thiếu chánh niệm trong xét việc.
3. nóng vội không chịu tìm hiểu kỹ, do đó kết luận sai lầm.
 
Tà niệm > tà tư duy > tà ngữ > tà nghiệp.
 
Muốn sửa, bắt đầu là chánh niệm,
Các tính khác sẽ nối theo thôi:
 Chánh kiến > chánh niệm > chánh tư duy > chánh ngữ > chánh nghiệp.
 
DN
30.11.2020
 

Tam doan luan

 Tam đoạn luận đơn

 

- Là một cách diễn dịch 

- Tam đoạn luận đơn có 3 câu:

1. Đại tiền đề

2. Tiểu tiền đề

3. Kết luận

 



Rửa chén

 


1

Ngủ sớm

11 giờ đêm mình đã thức

Xem tin tức..

Giờ rửa chén đã đến!

Trong mạng nói

Người ta còn bàn về US-Wahl

 

DN


Sunday, 29 November 2020

Kệ

 

Lá vàng chợ phiên

 

Cờ tướng

 

Giải trí chơi đánh cờ

Ngao du cùng mọi người ngày vui

Thắng thua cùng hào hứng

 

Lọ lem NN

Muốn block mình nên

Tìm lý do trên trời dưới đất

Kệ 

ĐN

 

 




Sắp Noel rồi

Sắp Noel rồi

1

Đi xe đạp hay ghê

Ý tưởng hiện trên đầu mãi thôi

Thích đạp xe lòng vòng 


2

Đi qua con đường Lerche

Nhớ lại những người thân từng ở đây

Họ ở Mỹ hay Việt nam rồi


3

Khuya qua đi về nhà

Các công nhân đang sửa đường rầy xe điện

Hôm nay chủ nhật vẫn còn làm

 

DN


Giận cá chém thớt

 


 

 

1

Lá còn trên cành

Mùa thu đang qua từng ngày

Con đường Johannes


2

Cây đèn thiên hạ cho

Màu trắng kiểu xưa ta từng dùng

Bóng đèn sẽ mua sau


3

Cà phê Stockle góc phố

Xưa kia ly cà phê 3 đức mã

Bây giờ giá 4 Euro

 

4

Apfelkuchen

Mua ở tiệm gần Holderlinplatz

Đem về nhà chiều chủ nhật 


5

Cô bé đi chơi 

Bị ai chọc ghẹo bực bội

Gặp mình tuốt giận thiên lôi!


ĐN


Saturday, 28 November 2020

Nấu trà

 

Lăng-Cô

 

 

Nấu trà

Nấu trà

Rồi

Dọn dẹp

..

Bỏ nước vào ấm

Cắm điện vào

..

Vào phòng tắm

Rửa chân

Chân đã sạch

Mặc quần áo mới

..

Nước đã sôi rồi nhỉ?

ĐN




Monday, 16 November 2020

Tri kỹ

 

 

 


 

 

Một lời đã biết tên ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!

Nguyễn Du

 

Saturday, 14 November 2020

Tặng Ngộ

 



Bài thơ còn lại 
 
chép tặng Ngộ, đây là những vần thơ mà DN
từng thích..

Bước rất nhẹ như mây mềm dưới gót
E nắng buồn làm rối tóc mưa ngâu
Em tìm anh nước uốn nhịp ven cầu
Năm tháng cũ rợn tình xưa tỉnh thức
 
Em vẫn bé, anh vẫn còn ngây ngất
Màu áo hường còn gợn sóng âm thanh
Mắt thuyền qua nên nón vẫn nghiêng vành
Chân cuống quýt nên guốc giòn gõ cửa
 
Anh mở vội cả nghìn lần hớn hở
Cho hồn nhiên, mắc cỡ với hoài nghi
Em cúi đầu và lặng lẽ bước đi
Từ hôm ấy cửa nhà anh bỏ ngỏ
 
Bước rất nhẹ như hường qua sắc đỏ
Như màu trời len lén bước vào xanh
Như thời gian vò nát lá thư tình
Bước rất nhẹ như vẫn còn đứng lại
 
Bước rất nhẹ như mùa Thu con gái
Như bàn tay khẽ hái tiếng đàn tranh
Như chưa lần nào em nói: yêu anh
Như mãi mãi anh còn nguyên thương nhớ
 
Bước nhè nhẹ như bóp mềm hơi thở
Như ngập ngừng chưa nỡ xé chiêm bao
Em có về ăn cưới những vì sao
Để chân bước trên giòng sông loáng bạc
 
Ở một chỗ tưởng chừng như đi lạc
Yêu một người mà cảm thấy mênh mông
Em đi ngang nhịp bước có lạnh lùng
Mà sao vẫn y nguyên bài thơ cũ?
 
Vẫn lặng lẽ để anh nghe vừa đủ
Vẫn thờ ơ cho rủ hết màn the
Vẫn mỉm cười rồi vẫn lấy tay che
Cho cặp mắt bỗng nhiên mười sáu tuổi
 
Tay vụng quá nên thư không viết nổi
Mực trong bình như cẩm thạch ngẩn ngơ
Giấy trắng tinh đem bóc nhẹ từng tờ
Tầu bay giấy ngượng ngùng bay ra cửa!
 
Em nguyên vẹn là bài thơ bé nhỏ
Anh còn nguyên là một kẻ yêu em
Em đi ngang xin ráng bước cho êm
Đừng đánh thức thời gian đang ngủ kỹ
 
Đừng đẹp quá để anh đừng rối chỉ
Lấy gì đây khâu vá lại tình xưa?
Có đi ngang xin chọn lúc bất ngờ
Đừng nói trước để anh buồn vơ vẩn
 
Có đi ngang xin em đừng đánh phấn
Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai
Mắt vương tơ của những phút học bài
Tay kheo khéo khi đánh chuyền với bạn
 
Em giấu đi những nỗi lòng vỡ rạn
Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi
Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê
Những ngõ vắng, tối tăm anh giấu hết.
 
Hoàng Anh Tuấn
 

Wednesday, 11 November 2020

em Năm


 

 

1.

Em Qúy

Đã mất từ lâu rồi

Khi nhớ nghĩ về em

Mình rất thương

Kí niệm với em

Ổ Đà Nẵng trong thời thơ ấu

Ổ Đà lạt, Bảo Lộc

Pleiku..

 

Có nhiều điều để nói về em

Về anh em mình!

 

2.

Có người em để anh thương

Bên nhau chia sẻ vấn vương một thời

Thuở bình sinh sống nghĩa tình

Em đi anh nhớ ân tình chú em 


ĐN

 

Wednesday, 28 October 2020

Bão số 9 Molave



Cơn bão số 9

Molave 

Tưởng là chỉ đem hại!

Nào biết, nó cũng đem lợi ích:

1/ Làm người ta xích lại gần nhau.

2/ Hiểu thêm về sức mạnh của thiên tai.

3/ Thêm hiểu biết về khí tượng

4/ windy.com

5/ Bão là gì?

6/ Phải làm gì để tránh bão.

ĐN


Friday, 23 October 2020

Viết đi

 


 

Có nhiều điều đáng viết

Vậy hãy viết

Khi mình còn viết được!

ĐN


Không chịu ngủ


 

Đã lên giường

Chưa chịu ngủ

Lại bước xuống

Tìm Dominican

Và ly cognac..

 

Ta vào làm bài thơ

Linh tính em đã về

Dấu chân chim nho nhỏ

Làm ta vui miên man!


ĐN


Thùng rác đã trống!


 

Sáng thấy thùng rác đã đầy

Tới bưng rác xuống vội đổ

Ai ngờ công nhân vệ sinh

Đã mang rác đi mất rồi

Thùng trống, tha hồ đổ!

Mừng lắm, tri ân người đổ rác!


ĐN

Trang FB của bạn


 

 

Sáng nay vào FB

Xem bài này bài kia

Thấy vắng bài của anh bạn

Mà ngày nào mình vẫn đọc

Tìm mãi có thông báo

Có thể trang không còn

Hy vọng nay mai sẽ

Xem trang ấy trỡ lại

Nếu không rất là buồn

 

ĐN


Wednesday, 21 October 2020

Nghe vẻ nghe ve..


 

 

Sư bà làm một bài vè

Để tặng cô bé dễ thương ngày nào

Ta đây thi thoảng nhớ về

Câu vè Điệu Ngộ càng thương 2 người


ĐN

để nhớ về ngôi chùa ở Huế thương yêu, nơi em đã sống một thời

Thursday, 15 October 2020

Bếp

 


1

Phát hiện trong bếp 

có chổ để tivi!

Do đó mình đã đem tivi đặt ở đó.

Thế là được 1 công 2 việc:

Vừa có thể xem tivi .. trong bếp

Vừa bớt chổ mà tivi chiếm 

trong phòng làm việc.

2

Kệ bên cửa sỗ bếp đã free!



Basho/ Vĩnh Sính và Haiku

 


Sẽ tìm hiểu bài này:

1. Đề tài
2. Mục lục
3. Tài liệu tham khảo
4. Có gi đáng khen?
--

Vẻ đẹp tịch liêu (sabi) trong lối lên miền Oku - Matsuo Basho

Nguyễn Thị Lam Anh

1. Đặt vấn đề

Basho là một haijin (người sáng tác haiku) nổi tiếng của Nhật Bản. Ông là người có công đưa haiku lên địa vị lừng lẫy trên thi đàn thế giới. Thi tập quan trọng góp phần định hình phong cách Tiêu phong (Tofu) cũng như giúp Basho trở thành một trong tứ trụ haiku Nhật Bản (Basho – Buson – Issa – Shiki) chính là Lối lên miền Oku (Oku no hoshomichi). Đây là một tác phẩm thuộc thể kí có lời kể, có chi tiết, sự kiện, có phác họa chân dung… nghĩa là có chất tự sự. Tuy nhiên, nó cũng thật sự là một tác phẩm trữ tình, với văn xuôi haibun kết hợp cùng thơ haiku, với những bức tranh tràn ngập hình ảnh thiên nhiên mà qua đó, cái tôi trữ tình của tác giả được bộc lộ vừa chân thành mộc mạc, vừa kín đáo tinh tế.

Hình ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomichi rất đa dạng, phong phú: từ hình ảnh mùa xuân đến mùa đông; từ không gian biển khơi đến rừng sâu, trời thẳm; từ cái nhỏ bé tầm thường như chấy bọ, vỏ hến, xác hoa đến cái lớn rộng vĩ đại như sông Mogami hay dải Ngân Hà… Hình ảnh trong Oku no hoshomichi không chỉ thể hiện vẻ cô liêu, quạnh hiu, u buồn mà còn thể hiện vẻ thanh tú, tao nhã, tươi đẹp, đam mê. Có lẽ vì vậy mà Basho được mệnh danh là “thi sĩ của cái ao xưa, của biển Sado hoang sơ hay của đồng cỏ dại”. Đây là những hình ảnh biểu tượng cho một vẻ đẹp lí tưởng mà mĩ học Nhật Bản gọi là sabi 寂び.

Về từ vựng, sabi 寂び vốn được danh từ hóa từ động từ sabu có nghĩa là suy tàn, phai nhạt theo thời gian. Sabi cũng có nghĩa là trạng thái tĩnh lặng khi con người qua đời cũng có nghĩa là lớp mốc xanh trên đồ đồng xưa. Fujiwara no Toshinari (1114-1204), Zeami (1363-1443), Zenchiku (1405-1468) thống nhất quan điểm cho rằng sabi là tịch lặng, hoang liêu, cô quạnh, tự nhiên (tịch). Zenchiku dùng từ sabu để miêu tả cảnh đám lau sậy ven biển lụi tàn vì sương gió. Sen no Rikyu – bậc thầy trà đạo XVI, thường ghép wabisabi để đề cao vẻ đẹp tự nhiên, đơn giản. Nhật Chiêu trong cuốn Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 nhấn mạnh: “Sabi (tịch) là linh hồn của tịch liêu và xa xưa. Đó là niềm tịch tĩnh mà trong những kinh nghiệm thiền quán, người ta cảm thấy” [4,273]. Trong cuốn tản văn Ca tụng bóng tối, Junichiro Tanizaki đã nêu lên niềm yêu thích của người Nhật dành cho những đồ vật mang dấu vết của bụi bặm, bồ hóng và khí hậu, màu sắc và lớp bóng gợi nhắc đến quá khứ đã tạo ra chúng, một vẻ đẹp nhuốm màu thời gian. Đến Basho, ngoài những ý nghĩa trên, nhà thơ đã bổ sung thêm ý nghĩa tươi đẹp, tao nhã, ấn tượng (nhã) cho sabi. Hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong tập Lối lên miền Oku có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần hòa tan bản ngã vào thiên nhiên của Thiền tông và tinh thần tìm linh hồn cái đẹp trong thảo mộc của Thần đạo. Cảm thức đó thể hiện đậm nét trong tập thơ đến độ được Nhật Chiêu khẳng định: “Mỗi bài haiku trong tác phẩm dường nhưđều thấm nhuần cảm thức sabi” [3,10]. 2. Nội dung nghiên cứu

Vẻ đẹp sabi ẩn hiện trong những hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu và thiên nhiên thanh tú, trang nhã.

2.1. Hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu

Chất cô quạnh sabi hài hòa man mác khắp các hình ảnh những ngọn núi, cánh đồng, những dòng sông, mặt biển… lộ rõ vẻ hoang sơ, cô liêu, quạnh hiu của tạo hóa sắp đặt cho miền Oku.

Ngày đầu tiên cất bước lên đường du hành, Basho nhìn đỉnh núi Fuji “mập mờ hiện ra trên bầu trời đầy sương mù, qua ánh trăng ban mai yếu ớt” mà lòng liên tưởng tới muôn nẻo Oku. Chính đỉnh núi Fuji ấy – vốn là hình ảnh lí tưởng trong cảm nhận Nhật Bản – đã báo hiệu cho những hình ảnh núi rừng Oku vẻ hiu quạnh, lạnh lẽo. Đỉnh núi Kurogami thì “hãy còn tuyết trắng chưa tan ẩn hiện trong sương mù”. Khu rừng Ki no shita thì “chắc hẳn sương mù phải xuống nhiều lắm nên thi nhân mới có câu: Hỡi anh samurai ơi! Nhớ đem theo dù cho Chúa nhé!”. Còn núi Gasan thì ngập trong “mây mù và khí núi lạnh lẽo”, băng tuyết phủ khắp làm lu mờ danh giới đất trời, khiến nhà thơ: “không biết phải chăng là mình sắp bước vào ải quan trên đường mây, nơi quỹ đạo của hai vầng nhật nguyệt gặp gỡ nhau?”. Vẻ cô quạnh của hình ảnh núi rừng như thấm vào da thịt bởi cảm giác lạnh lẽo: “Tôi cảm thấy khó thở và chân tay như cóng lại”. Hình ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomihi nằm trọn vẹn trong ba mùa xuân, hạ, thu mà cuộc hành trình sáng tác trải qua nhưng chính tuyết trắng và khí lạnh trong hình ảnh núi đã mang đến cho chúng ta cảm giác mùa đông. Tác phẩm thực sự như một bản sonat bốn mùa mà trong đó hình ảnh núi rừng mùa đông lạnh lẽo, cô quạnh khiến xúc cảm của ta đầy lắng đọng suy tưởng sabi, đầy trân trọng trước vẻ thâm nghiêm, huyền bí còn giữ được sự hoang sơ của núi rừng Oku.

Hình ảnh đầm lầy, ruộng nương hay đồng cỏ… tuy không được miêu tả tỉ mỉ như những ngọn núi nhưng cũng góp phần gợi ra ấn tượng lớn về chất sabi hoang sơ đến tịch liêu của núi rừng Oku nói chung. Basho gợi ra vẻ hoang dã của hình ảnh những cây cỏ tam điệp (hagi), cây mã túy (asebi) mọc tràn lan “khắp các cánh đồng”. Riêng trang viết về Kitagami và người anh hùng Yoshitsume, dù không trực tả, không con số thống kê, không một mảng màu sắc được đưa ra… nhưng lại hiện lên rõ nét một đồng cỏ hoang dại. Basho dùng lời kể, lời bày tỏ xúc cảm, lời thơ trích dẫn… để tạo ra những ấn tượng sabi của đồng cỏ mùa hè. Ông kể nhiều về những chiến công hào hùng của Yoshitsune: xây dựng lâu đài, thành quách, đập phòng thủ ngang sông Koromo… và chiến đấu anh dũng trên đồng cỏ bên sông. Nhưng giờ đây trước mắt Basho là những thành trì đổ nát và đồng cỏ hoang dại không bóng người. Vụt lên trong trí nhớ của Basho là câu thơ Xuân Vọng của Đỗ Phủ (712 – 770):

Quốc phá, sơn hà tại
Thành xuân, thảo mộc thâm

Nước mất, còn sông núi


Thành xuân, cảnh um tùm
(Tương Như dịch)

Basho cũng viết thơ về sự biến đổi tang thương ấy, nhưng không dùng một chữ “thâm” nào chỉ đích xác sự hoang dại, quạnh hiu. Từ những dòng haibun phía trên câu thơ haiku này mà hình ảnh cỏ mùa hạ trở nên câm lặng, hoang tàn so với những giấc mơ hào hùng của người tráng sĩ:

Cỏ mùa hạ ơi
hùng binh một thuở
dấu tàn giấc mơ thôi.

Không phải vô tình mà Basho viết bài thơ sau trước khi từ biệt cõi đời:

Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
(Lê Giang dịch)

Đồng cỏ hoang dại là hình ảnh cô quạnh để lại dấu ấn không bao giờ phai trong Basho. Ngay cả khi ông nằm trên giường bệnh, hình ảnh ấy vẫn day dứt trở về trong những giấc mộng của ông.

Sự hoang sơ, cô quạnh có khi không hiện lên qua đường nét, màu sắc, hay tình tiết sự kiện nào mà qua một âm thanh:

Tịch liêu
thấm sâu vào đá tiếng ve.
(Nhật Chiêu dịch)

Bài thơ được Basho sáng tác khi ông đến thăm sơn tự Riusakuji. Trong không gian tịch lặng chỉ có tiếng kêu của dàn đồng ca ve vang vọng. Tiếng ve râm ran trong cảm nhận của người Nhật rào rào như tiếng mưa giông mùa hạ nên người Nhật mới có thành ngữ semishigure – ví tiếng ve như tiếng mưa rào. Từ liên tưởng kì diệu đó, Basho có cảm giác tiếng ve như nước len lỏi, thấm dần vào trong từng kẽ đá. Vạn vật giao hòa trong một quan hệ vô cùng bí ẩn và nhiệm màu. Tiếng ve khiến không gian như tịch mịch hơn. Thủ pháp lấy động tả tĩnh này ta rất hay gặp trong thơ Đường. Basho vốn cũng rất ngưỡng mộ Lý Bạch, Đỗ Phủ và xa hơn là cả Lão Tử, Trang Tử. Có lẽ những tư tưởng hướng tới cái đẹp tự nhiên, tương giao, hòa hợp đã hình thành trong Basho ngay từ những ngày tuổi trẻ say mê nghiên cứu thơ cổ và cả thư pháp Trung Quốc, Nhật Bản.

Sơn – thủy không tách rời nhau trong bức tranh thiên nhiên Oku dù chỉ nhìn riêng ở vẻ cô quạnh. Chương viết về Matsushima là một trong những chương hay nhất của tác phẩm, trong đó hình ảnh nước gắn liền với hình ảnh đảo như đặc trưng địa lí Nhật Bản. Một không gian sóng nước mênh mông “dài bảy dặm”, “sóng triều đánh vào rất lớn chẳng khác gì ở Chiết Giang”. “Có vô số đảo” lớn nhỏ được tạo hóa sắp đặt rất tự nhiên: “có đảo cao vút chỉ lên trời, có đảo phục xuống luồn dưới sông. Có đảo nằm chồng chất lên nhau hai ba tầng, rời nhau bên trái rồi nối nhau bên phải. Có đảo lớn cõng đảo bé hoặc bế đảo trên tay tựa như muốn nói lên tình yêu đối với con cháu”. Matsushima mang vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ, sâu lắng, tịch mịch chỉ có nước với đá, có trăng với gió mây bạt ngàn. Basho ví: “Matsushima có nét đẹp sâu lắng tựa như khuôn mặt của một mĩ nhân”.

Còn ở Kisagata, núi “cao dựng trời, in bóng trên sông”, là nơi nổi tiếng với những cơn sóng cuộn và bài thơ Chèo thuyền trên hoa của Saigyo, được Basho đánh giá: “Ngoài nét tịch liêu còn có cái gì u hoài, khiến cho du khách cảm thấy xao xuyến”.

Như vậy cô quạnh, tịch liêu mà không là sự chết lặng, tẻ nhạt, buồn chán, cũng không là cõi vô (mu) của đạo Thiền tiêu diệt mọi dục vọng. Hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong văn thơ Basho lại gợi ra những xúc cảm xao xuyến u hoài nhẹ nhàng và mơ hồ. Đôi khi tạo niềm thành kính trước khung cảnh Oku thâm nghiêm và đầy sức mạnh tự nhiên.

Đến khung cảnh của bãi biển Iro thì vẻ quạnh hiu càng lộ rõ: “Trên bãi biển chỉ có dăm ba túp lều nhỏ của các ngư phủ và chùa Hokke quạnh hiu (…). Biển và trời vào lúc hoàng hôn buồn da diết”.

Buồn làm sao
hơn cả Suma quạnh hiu

mùa thu trên biển.

Theo lời đồn đại và theo tập truyện cổ Nhật Bản – Truyện kể Genji (Murasaki Shikibu) thì bãi Suma vô cùng hiu quạnh. Basho đã so sánh một hình ảnh biển Suma cụ thể ấy với một hình ảnh thu trừu tượng (mùa thu trên biển Iro) làm cho vẻ hiu quạnh càng thêm nổi bật, có gì đó giống như Nguyễn Du mượn hình ảnh Thúy Vân để tả Thúy Kiều vậy. Sóng nước, ánh sáng hay khí trời trên mặt nước đều nhuốm một màu tịch liêu, quạnh hịu và u hoài, xao xuyến.

Vẻ đẹp cô quạnh trong hình ảnh thiên nhiên của tác phẩm Oku no hoshomichi đã từng làm cho nhiều người nghiên cứu quy nó vào chất Thiền. Nhưng thực ra cái cô quạnh của văn chương đậm chất Thiền gợi ra một Niết bàn, ở đó con người thoát khỏi mọi dục vọng, mọi ưu sầu… hướng đến một ý chí tối cao là sự thanh thản, trung dung. Còn hình ảnh cô quạnh của văn chương Basho không chỉ gợi ra vẻ tịch liêu mà còn gợi ra những cảm xúc u hoài, xao xuyến. Mặc dù cả hai cùng cảm nhận bằng trực cảm, tránh xa dục vọng tầm thường, hướng tới cái đẹp của sự thanh tịnh. Nghĩa là một bên thì gợi ra ý chí, còn một bên lại gợi ra xúc cảm. Xúc cảm mà hình ảnh thiên nhiên cô quạnh trong tác phẩm này gợi ra có thể là nỗi niềm xao xuyến trước dấu ấn của mùa hay của đời sống con người lên thiên nhiên; có thể là nỗi niềm xao xuyến khi đứng trước một cảnh vật tác giả tìm thấy sự đồng cảm với các bậc tiền nhân cũng đã từng đi qua nơi ấy và viết thơ để lại; cũng có thể là nỗi niềm u hoài về quá vãng…

2.2. Hình ảnh thiên nhiên thanh tú, trang nhã

Sơn thủy trong thi tập Lối lên miền Oku cô quạnh nhưng cũng rất hữu tình, nó không bí hiểm, rợn ngợp mà rất hài hòa với vẻ đẹp thanh tú của những hình ảnh thiên nhiên khác.

Đóng góp lớn lao của Basho vào quan niệm sabi của văn học nói riêng, văn hóa Nhật Bản nói chung chính là ở việc ông đề cao tính thẩm mĩ trong nó. Trước ông, Teika (1162 – 1241) cũng chú trọng ý nghĩa thẩm mĩ, tước bỏ chất tôn giáo trong khái niệm sabi mà cha ông (Fujiwara no Toshinari) khởi xướng. Nhưng văn thơ Basho tìm đến cái đẹp thanh tú, tao nhã chứ không sặc sỡ, diêm dúa như sáng tác của Teika, cũng không như cái đẹp hưởng lạc của văn chương “phù thế” đương thời. Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp sabi trong Oku no hoshomichi vì thế còn có nét thanh tú, thơ mộng, thi vị… rất phù hợp với tâm hồn “duy mĩ” Nhật Bản cũng như hài hòa với tinh thân thần Thiền tông đã thấm đẫm trên đất nước Phù Tang này. Basho nói: “Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi cầm thú” [2; 31].

Vẻ đẹp thanh tú trước hết gợi lên từ hình ảnh trăng và mưa. Trăng và mưa trong Lối lên miền Oku hết sức phong nhã, trong sáng. “Ngay từ khi châm đầu gối bằng ngải cứu nhằm sửa soạn cho cuộc hành trình, tôi đã không ngớt miên man nghĩ đến vầng trăng ở Matsushi- ma”. Đọc những dòng đầu tiên của Oku no hoshomichi như thế, bạn đọc không khỏi khấp khởi, háo hức cùng Basho mau đến Matsushima ngắm trăng. Và đây là tất cả những gì chúng ta mong đợi: “Ánh trăng phản chiếu sáng trên biển: cảnh sắc Matsushima trông khác hẳn ban ngày”. Văn haibun chỉ miêu tả có vậy, cũng không trông chờ gì ở thơ haiku vì Basho “đặt lưng xuống” mà “ngậm miệng chẳng làm bài thơ nào”. Hattori Toho, môn đệ của Basho kể lại là: “Thầy có nói là khi đứng trước một cảnh sắc quá ư tuyệt vời, người mình như bị thu hút. Thầy không làm bài thơ nào ở Matsushima. Đây là một điều quan trọng” [1,69].

Phong nhã có lẽ chính ở sự vô ngôn ấy, nó là cái đẹp len thấm nhẹ nhàng vào cảm giác mà không dễ gì miêu tả thành lời. Nó là vẻ đẹp không đường nét, màu sắc cụ thể nào, chỉ biết “ánh trăng phản chiếu trên biển”. Có thể gọi “trăng” như thế là “hình ảnh trong gương”, nhìn thấy mà không nắm bắt được. Sau này Kawabata cũng dùng hình ảnh “thủy nguyệt” ấy để nói lên những tinh tế của tâm hồn.

Ánh sáng, mây, gió, sương… và cả mưa đều mang vẻ đẹp vô hình hoặc không định hình như vậy. Những ấn tượng bất ngờ này thường tạo niềm u hoài, nuối tiếc rất sabi. Hình ảnh mưa chủ yếu trong Oku no hoshomichi là mưa rào tháng năm (samidare) nên không có vẻ mơ màng như mưa mơ, mưa mận mùa xuân (mưa baiu). Nhưng nó phong nhã ở những khía cạnh khác. Mặc dù mưa tháng năm là hình ảnh gắn liền với “nước dột”, “rệp muỗi quấy rầy”, “đường sá quá ư lầy lội” hay “ủ nước cho dòng sông cuồn cuộn chảy”, tức gắn liền với những hình ảnh không chút phong nhã kiểu thi vị cổ điển. Nhưng thế nào Basho cũng chỉ ra được một khía cạnh rất hài hòa với hình ảnh khác của nó. Vẻ hài hòa tự nhiên có lẽ mới chính là cốt lõi của phong nhã. Ở Kasajima, nưa rào tháng năm trở nên “quá ư thích hợp” với những tên địa danh Minowa (mino: áo tơi) và Kasajima (kasa: dù che mưa). Mưa rào có thể “làm cho nhiều cái đổ nát để rồi trở thành một bãi cỏ hoang”, nhưng thay cho việc miêu tả sự hoang tàn, trống trải có thể có, Basho lại chiêm ngưỡng cái đẹp thuận hợp, an hòa của mưa:

Mưa tháng năm
không tàn phá đến
sảnh đường Dương Quang.

Sảnh đường Hikarido (Dương Quang) là một di tích văn hóa truyền thống quý giá ở nơi Oku hẻo lánh khi đó, chứng tích vàng son của những ông hoàng thế kỉ XII. Sự hài hòa của mưa tháng năm với ý nguyện giữ gìn vẻ đẹp văn hóa của con người đã làm nên một vẻ đẹp phong nhã đầy ý nghĩa. Hình ảnh mưa có vẻ như vô duyên khi làm mất đi cảnh trăng rằm mà nhà thơ mong đợi. Nhưng có thể chính nó đã giúp ta hiểu rằng đẹp hay phong nhã là ở chính trong tâm hồn chứ không phải tìm trong cảnh vật, hoặc thể phong nhã là chính sự tự nhiên của tạo vật chứ không như sự cố định hạn hẹp mà con người hình dung trước đó.

Vẻ đẹp phong nhã trong Lối lên miền Oku còn thể hiện trong hình ảnh hoa và các loài thảo mộc. Hoa lá cỏ cây… thường mang đến vẻ thanh tao, thi vị, lại càng trở nên phong nhã dưới những áng văn thơ đậm chất sabi của Basho.

Để nói về đóa hoa cây lật (hạt dẻ), Basho đã viết văn haibun rất tỉ mỉ về tên cây: “Chữ “lật” gồm chữ “tây” và chữ “mộc”, gợi ý ở Tây phương tịnh độ. Người ta bảo rằng Gyogi Bồ Tát suốt đời dụng gây cây lật và xây ngôi nhà cũng chỉ bằng gỗ lật”. Ngay đến Saigyo cũng nói một câu đầy ẩn ý: “Nơi rừng sâu tôi lượm hạt dẻ”. Về hoa dẻ, Basho viết:

Nhân gian
không màng đến đóa hoa

cây dẻ bên hiên nhà.

Vẻ đẹp của những bông hoa ấy không ở đường nét, màu sắc mà có khi chính ở sự vô dụng, thoát khỏi ham muốn cầu lợi của người đời. Khi “nhân gian không màng đến” thì nhà thơ lại nghĩ về nó thật nhiều, phân tích tên cây đến ngẫm nghĩ về cựu tích của nó. Bài thơ đầu tiên về hoa trong Oku no hoshomichi đã gợi ra vẻ phong nhã của bể Thiền: trong sáng và thanh cao. Hình ảnh hoa không được tả nhưng được lí giải gián tiếp qua điển tích nên vẫn rất sinh động.

Đôi khi Basho đặt hình ảnh những bông hoa giản dị, đời thường cạnh những hình ảnh vốn được thừa nhận là tao nhã, thanh cao từ trong truyền thống, để cho hai hình ảnh cân xứng với nhau và theo đó đưa hoa lên một vẻ phong nhã bất ngờ. “Hoa nghệ tây” được sánh cùng hình ảnh mĩ nhân trang điểm. “Hoa dạ hợp” sánh ngang nàng Tây thi mĩ miều:

Chà Kisagata
trong mưa Tây Thi ngủ

mơ màng những cánh hoa.

Ta ngộ ra một điều rằng thiên nhiên thanh tú, phong nhã là “một vũ trụ thuần khiết không còn sai biệt”. “Tất cả đều có cuộc sống, có Phật tính, có sự bình đẳng trong ánh sáng và cát bụi” [2; 35].

Cây cỏ trong Oku no hoshomichi cũng mang vẻ đẹp không rực rỡ sắc màu, không hào nhoáng mà thanh nhã và cổ kính, như hình ảnh của “những cây tùng có màu xanh mướt, óng ánh tuyệt vời. Cành cây bị uốn nắn liên tục bởi gió khiến ta có cảm tưởng như những cây tùng này đã tự tạo nên những nét cong cho chính mình”. Mỗi chương khác nhau Basho lại khắc họa rõ nét hình ảnh thanh tú của nó bằng vẻ cổ kính của những đám rêu bám chặt gốc tùng, ánh trăng huyền ảo xuyên qua kẽ lá, hình ảnh “những khóm lau đã trổ bông” từng được nhắc nhiều trong thơ ca của các bậc tiền nhân theo đuổi hai chữ “phong nhã” (fuga); hay hình ảnh đồng hoa mã túy bạc trắng…

Trong văn chương, thiên nhiên thường được dựng lên như một cái phông nền cho nhà văn khắc họa hình ảnh con người nhưng trong Oku no hoshomchi thì Basho không chỉ tạo không gian, thời gian nghệ thuật bằng cảnh vật, mà còn coi chúng như một hình tượng chính, nếu không muốn nói là hình tượng trung tâm, khá cân xứng với hình tượng con người miền Oku. Vì thế thiên nhiên mang sức sống tự nhiên, sinh động của chính nó, nhiều hơn là mang một ý nghĩa tượng trưng, ẩn dụ cho một hình ảnh nào khác. Nếu hiểu được tinh thần Shinto yêu mến thiên nhiên đến sùng bái của người Nhật, hiểu được nghệ thuật vườn đá, trông cây cảnh bonsai hay cắm hoa ikebana là tự nhiên được thu nhỏ chứ không là nhân tạo… thì chúng ta sẽ thấy được sự độc đáo rất Nhật Bản của hình ảnh thiên thiên trong Oku no hoshomichi. Basho khắc họa chúng ở những nét cô quạnh và thanh tú, ẩn chứa đằng sau là những xúc cảm xao xuyến, man mác, u hoài. Có lẽ đó cũng như một sự phản ứng của ông đối với Edo hoa lệ đến xô bồ mà nhân thế đang quay cuồng trong sự phát triển bát nháo của nó. Cũng là một thái độ phản kháng nhưng Basho rất tế nhị, nhẹ nhàng bằng việc bày tỏ nguyện vọng, ước mơ, niềm khao khát của mình vào một thực tại thanh tao mà ông tìm thấy ở Oku. Có gì đó giống như tinh thần ẩn dật của lớp nhà văn ẩn sĩ từ thời Heian xa xưa. Có gì đó vẫn rất dễ dàng đồng cảm với thời đại văn học sinh thái của chúng ta bây giờ!!

ThS Bùi Thị Mai Anh

Viện Giáo dục và Đào tạo Quốc tế, Trường ĐHSP HN

Ghi chú: Các câu haiku được sử dụng trong bài viết này do người viết tạm dịch, nếu do người khác dịch thì ghi rõ tên dịch giả, các câu haibun sử dụng bản dịch của Vĩnh Sính trong cuốn Lối lên miền Oku (Nxb Thế giới, H.1999).

Tài liệu tham khảo

1. Matsuo Basho, Vĩnh Sính dịch, giới thiệu và chú thích (1999), Lối lên miền Oku. NXB Thế giới, H.

2. Phan Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, NXB Văn học, T.P.HCM.

3. Phan Nhật Chiêu. Thơ ca Nhật Bản. Nxb Giáo dục. T.P. HCM. 1998.

4. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB GD, H.

5. Harold G. Henderson, Lê Thiện Dũng dịch (2000), Hài cú nhập môn, NXB Trẻ, T.P. HCM.

6. V.V. Ootrinicốp. Phong Vũ dịch (1996), Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật, Số 5/1996, Tạp chí Văn học, tr.60.

7. Matsuo Basho, Donaid Keene translated (1996), The Narow Road to Oku. Kodansha imerational, Japan.

--

clbthohaikuviethcm.vn