1. Đặt vấn đề
Basho là một haijin (người
sáng tác haiku) nổi tiếng của Nhật Bản. Ông là người có công đưa haiku
lên địa vị lừng lẫy trên thi đàn thế giới. Thi tập quan trọng góp phần
định hình phong cách Tiêu phong (Tofu) cũng như giúp Basho trở thành một
trong tứ trụ haiku Nhật Bản (Basho – Buson – Issa – Shiki) chính là Lối lên miền Oku (Oku
no hoshomichi). Đây là một tác phẩm thuộc thể kí có lời kể, có chi
tiết, sự kiện, có phác họa chân dung… nghĩa là có chất tự sự. Tuy nhiên,
nó cũng thật sự là một tác phẩm trữ tình, với văn xuôi haibun kết hợp
cùng thơ haiku, với những bức tranh tràn ngập hình ảnh thiên nhiên mà
qua đó, cái tôi trữ tình của tác giả được bộc lộ vừa chân thành mộc mạc,
vừa kín đáo tinh tế.
Hình ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomichi rất
đa dạng, phong phú: từ hình ảnh mùa xuân đến mùa đông; từ không gian
biển khơi đến rừng sâu, trời thẳm; từ cái nhỏ bé tầm thường như chấy bọ,
vỏ hến, xác hoa đến cái lớn rộng vĩ đại như sông Mogami hay dải Ngân
Hà… Hình ảnh trong Oku no hoshomichi không chỉ thể hiện vẻ cô
liêu, quạnh hiu, u buồn mà còn thể hiện vẻ thanh tú, tao nhã, tươi đẹp,
đam mê. Có lẽ vì vậy mà Basho được mệnh danh là “thi sĩ của cái ao xưa,
của biển Sado hoang sơ hay của đồng cỏ dại”. Đây là những hình ảnh biểu
tượng cho một vẻ đẹp lí tưởng mà mĩ học Nhật Bản gọi là sabi 寂び.
Về từ vựng, sabi 寂び vốn được danh từ hóa từ động từ sabu có
nghĩa là suy tàn, phai nhạt theo thời gian. Sabi cũng có nghĩa là trạng
thái tĩnh lặng khi con người qua đời cũng có nghĩa là lớp mốc xanh trên
đồ đồng xưa. Fujiwara no Toshinari (1114-1204), Zeami (1363-1443),
Zenchiku (1405-1468) thống nhất quan điểm cho rằng sabi là tịch lặng,
hoang liêu, cô quạnh, tự nhiên (tịch). Zenchiku dùng từ sabu để miêu tả
cảnh đám lau sậy ven biển lụi tàn vì sương gió. Sen no Rikyu – bậc thầy
trà đạo XVI, thường ghép wabisabi để đề cao vẻ đẹp tự nhiên, đơn giản.
Nhật Chiêu trong cuốn Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 nhấn mạnh: “Sabi
(tịch) là linh hồn của tịch liêu và xa xưa. Đó là niềm tịch tĩnh mà
trong những kinh nghiệm thiền quán, người ta cảm thấy” [4,273]. Trong cuốn tản văn Ca tụng bóng tối, Junichiro
Tanizaki đã nêu lên niềm yêu thích của người Nhật dành cho những đồ vật
mang dấu vết của bụi bặm, bồ hóng và khí hậu, màu sắc và lớp bóng gợi
nhắc đến quá khứ đã tạo ra chúng, một vẻ đẹp nhuốm màu thời gian. Đến
Basho, ngoài những ý nghĩa trên, nhà thơ đã bổ sung thêm ý nghĩa tươi
đẹp, tao nhã, ấn tượng (nhã) cho sabi. Hình ảnh thiên nhiên cô quạnh
trong tập Lối lên miền Oku có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần
hòa tan bản ngã vào thiên nhiên của Thiền tông và tinh thần tìm linh
hồn cái đẹp trong thảo mộc của Thần đạo. Cảm thức đó thể hiện đậm nét
trong tập thơ đến độ được Nhật Chiêu khẳng định: “Mỗi bài haiku trong tác phẩm dường nhưđều thấm nhuần cảm thức sabi” [3,10]. 2. Nội dung nghiên cứu
Vẻ đẹp sabi ẩn hiện trong những hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu và thiên nhiên thanh tú, trang nhã.
2.1. Hình ảnh thiên nhiên hiu quạnh, cô liêu
Chất
cô quạnh sabi hài hòa man mác khắp các hình ảnh những ngọn núi, cánh
đồng, những dòng sông, mặt biển… lộ rõ vẻ hoang sơ, cô liêu, quạnh hiu
của tạo hóa sắp đặt cho miền Oku.
Ngày đầu tiên cất bước lên đường du hành, Basho nhìn đỉnh núi Fuji “mập mờ hiện ra trên bầu trời đầy sương mù, qua ánh trăng ban mai yếu ớt” mà
lòng liên tưởng tới muôn nẻo Oku. Chính đỉnh núi Fuji ấy – vốn là hình
ảnh lí tưởng trong cảm nhận Nhật Bản – đã báo hiệu cho những hình ảnh
núi rừng Oku vẻ hiu quạnh, lạnh lẽo. Đỉnh núi Kurogami thì “hãy còn tuyết trắng chưa tan ẩn hiện trong sương mù”. Khu rừng Ki no shita thì “chắc
hẳn sương mù phải xuống nhiều lắm nên thi nhân mới có câu: Hỡi anh
samurai ơi! Nhớ đem theo dù cho Chúa nhé!”. Còn núi Gasan thì ngập trong
“mây mù và khí núi lạnh lẽo”, băng tuyết phủ khắp làm lu mờ danh giới đất trời, khiến nhà thơ: “không biết phải chăng là mình sắp bước vào ải quan trên đường mây, nơi quỹ đạo của hai vầng nhật nguyệt gặp gỡ nhau?”. Vẻ cô quạnh của hình ảnh núi rừng như thấm vào da thịt bởi cảm giác lạnh lẽo: “Tôi cảm thấy khó thở và chân tay như cóng lại”. Hình
ảnh thiên nhiên trong Oku no hoshomihi nằm trọn vẹn trong ba mùa xuân,
hạ, thu mà cuộc hành trình sáng tác trải qua nhưng chính tuyết trắng và
khí lạnh trong hình ảnh núi đã mang đến cho chúng ta cảm giác mùa đông.
Tác phẩm thực sự như một bản sonat bốn mùa mà trong đó hình ảnh núi rừng
mùa đông lạnh lẽo, cô quạnh khiến xúc cảm của ta đầy lắng đọng suy
tưởng sabi, đầy trân trọng trước vẻ thâm nghiêm, huyền bí còn giữ được
sự hoang sơ của núi rừng Oku.
Hình ảnh đầm lầy, ruộng nương hay
đồng cỏ… tuy không được miêu tả tỉ mỉ như những ngọn núi nhưng cũng góp
phần gợi ra ấn tượng lớn về chất sabi hoang sơ đến tịch liêu của núi
rừng Oku nói chung. Basho gợi ra vẻ hoang dã của hình ảnh những cây cỏ
tam điệp (hagi), cây mã túy (asebi) mọc tràn lan “khắp các cánh đồng”.
Riêng trang viết về Kitagami và người anh hùng Yoshitsume, dù không
trực tả, không con số thống kê, không một mảng màu sắc được đưa ra…
nhưng lại hiện lên rõ nét một đồng cỏ hoang dại. Basho dùng lời kể, lời
bày tỏ xúc cảm, lời thơ trích dẫn… để tạo ra những ấn tượng sabi của
đồng cỏ mùa hè. Ông kể nhiều về những chiến công hào hùng của
Yoshitsune: xây dựng lâu đài, thành quách, đập phòng thủ ngang sông
Koromo… và chiến đấu anh dũng trên đồng cỏ bên sông. Nhưng giờ đây trước
mắt Basho là những thành trì đổ nát và đồng cỏ hoang dại không bóng
người. Vụt lên trong trí nhớ của Basho là câu thơ Xuân Vọng của Đỗ Phủ
(712 – 770):
Quốc phá, sơn hà tại
Thành xuân, thảo mộc thâm
Nước mất, còn sông núi
Thành xuân, cảnh um tùm(Tương Như dịch)
Basho
cũng viết thơ về sự biến đổi tang thương ấy, nhưng không dùng một chữ
“thâm” nào chỉ đích xác sự hoang dại, quạnh hiu. Từ những dòng haibun
phía trên câu thơ haiku này mà hình ảnh cỏ mùa hạ trở nên câm lặng,
hoang tàn so với những giấc mơ hào hùng của người tráng sĩ:
Cỏ mùa hạ ơi
hùng binh một thuở
dấu tàn giấc mơ thôi.
Không phải vô tình mà Basho viết bài thơ sau trước khi từ biệt cõi đời:
Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
(Lê Giang dịch)
Đồng
cỏ hoang dại là hình ảnh cô quạnh để lại dấu ấn không bao giờ phai
trong Basho. Ngay cả khi ông nằm trên giường bệnh, hình ảnh ấy vẫn day
dứt trở về trong những giấc mộng của ông.
Sự hoang sơ, cô quạnh có khi không hiện lên qua đường nét, màu sắc, hay tình tiết sự kiện nào mà qua một âm thanh:
Tịch liêu
thấm sâu vào đá tiếng ve.
(Nhật Chiêu dịch)
Bài
thơ được Basho sáng tác khi ông đến thăm sơn tự Riusakuji. Trong không
gian tịch lặng chỉ có tiếng kêu của dàn đồng ca ve vang vọng. Tiếng ve
râm ran trong cảm nhận của người Nhật rào rào như tiếng mưa giông mùa hạ
nên người Nhật mới có thành ngữ semishigure – ví tiếng ve như
tiếng mưa rào. Từ liên tưởng kì diệu đó, Basho có cảm giác tiếng ve như
nước len lỏi, thấm dần vào trong từng kẽ đá. Vạn vật giao hòa trong một
quan hệ vô cùng bí ẩn và nhiệm màu. Tiếng ve khiến không gian như tịch
mịch hơn. Thủ pháp lấy động tả tĩnh này ta rất hay gặp trong thơ Đường.
Basho vốn cũng rất ngưỡng mộ Lý Bạch, Đỗ Phủ và xa hơn là cả Lão Tử,
Trang Tử. Có lẽ những tư tưởng hướng tới cái đẹp tự nhiên, tương giao,
hòa hợp đã hình thành trong Basho ngay từ những ngày tuổi trẻ say mê
nghiên cứu thơ cổ và cả thư pháp Trung Quốc, Nhật Bản.
Sơn – thủy
không tách rời nhau trong bức tranh thiên nhiên Oku dù chỉ nhìn riêng ở
vẻ cô quạnh. Chương viết về Matsushima là một trong những chương hay
nhất của tác phẩm, trong đó hình ảnh nước gắn liền với hình ảnh đảo như
đặc trưng địa lí Nhật Bản. Một không gian sóng nước mênh mông “dài bảy dặm”, “sóng triều đánh vào rất lớn chẳng khác gì ở Chiết Giang”. “Có vô số đảo” lớn nhỏ được tạo hóa sắp đặt rất tự nhiên: “có
đảo cao vút chỉ lên trời, có đảo phục xuống luồn dưới sông. Có đảo nằm
chồng chất lên nhau hai ba tầng, rời nhau bên trái rồi nối nhau bên
phải. Có đảo lớn cõng đảo bé hoặc bế đảo trên tay tựa như muốn nói lên
tình yêu đối với con cháu”. Matsushima mang vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ, sâu lắng, tịch mịch chỉ có nước với đá, có trăng với gió mây bạt ngàn. Basho ví: “Matsushima có nét đẹp sâu lắng tựa như khuôn mặt của một mĩ nhân”.
Còn ở Kisagata, núi “cao dựng trời, in bóng trên sông”, là nơi nổi tiếng với những cơn sóng cuộn và bài thơ Chèo thuyền trên hoa của Saigyo, được Basho đánh giá: “Ngoài nét tịch liêu còn có cái gì u hoài, khiến cho du khách cảm thấy xao xuyến”.
Như
vậy cô quạnh, tịch liêu mà không là sự chết lặng, tẻ nhạt, buồn chán,
cũng không là cõi vô (mu) của đạo Thiền tiêu diệt mọi dục vọng. Hình ảnh
thiên nhiên cô quạnh trong văn thơ Basho lại gợi ra những xúc cảm xao
xuyến u hoài nhẹ nhàng và mơ hồ. Đôi khi tạo niềm thành kính trước khung
cảnh Oku thâm nghiêm và đầy sức mạnh tự nhiên.
Đến khung cảnh của bãi biển Iro thì vẻ quạnh hiu càng lộ rõ: “Trên
bãi biển chỉ có dăm ba túp lều nhỏ của các ngư phủ và chùa Hokke quạnh
hiu (…). Biển và trời vào lúc hoàng hôn buồn da diết”.
Buồn làm sao
hơn cả Suma quạnh hiu
mùa thu trên biển.
Theo lời đồn đại và theo tập truyện cổ Nhật Bản – Truyện kể Genji (Murasaki
Shikibu) thì bãi Suma vô cùng hiu quạnh. Basho đã so sánh một hình ảnh
biển Suma cụ thể ấy với một hình ảnh thu trừu tượng (mùa thu trên biển
Iro) làm cho vẻ hiu quạnh càng thêm nổi bật, có gì đó giống như Nguyễn
Du mượn hình ảnh Thúy Vân để tả Thúy Kiều vậy. Sóng nước, ánh sáng hay
khí trời trên mặt nước đều nhuốm một màu tịch liêu, quạnh hịu và u hoài,
xao xuyến.
Vẻ đẹp cô quạnh trong hình ảnh thiên nhiên của tác phẩm Oku no hoshomichi đã
từng làm cho nhiều người nghiên cứu quy nó vào chất Thiền. Nhưng thực
ra cái cô quạnh của văn chương đậm chất Thiền gợi ra một Niết bàn, ở đó
con người thoát khỏi mọi dục vọng, mọi ưu sầu… hướng đến một ý chí tối
cao là sự thanh thản, trung dung. Còn hình ảnh cô quạnh của văn chương
Basho không chỉ gợi ra vẻ tịch liêu mà còn gợi ra những cảm xúc u hoài,
xao xuyến. Mặc dù cả hai cùng cảm nhận bằng trực cảm, tránh xa dục vọng
tầm thường, hướng tới cái đẹp của sự thanh tịnh. Nghĩa là một bên thì
gợi ra ý chí, còn một bên lại gợi ra xúc cảm. Xúc cảm mà hình ảnh thiên
nhiên cô quạnh trong tác phẩm này gợi ra có thể là nỗi niềm xao xuyến
trước dấu ấn của mùa hay của đời sống con người lên thiên nhiên; có thể
là nỗi niềm xao xuyến khi đứng trước một cảnh vật tác giả tìm thấy sự
đồng cảm với các bậc tiền nhân cũng đã từng đi qua nơi ấy và viết thơ để
lại; cũng có thể là nỗi niềm u hoài về quá vãng…
2.2. Hình ảnh thiên nhiên thanh tú, trang nhã
Sơn thủy trong thi tập Lối lên miền Oku cô quạnh
nhưng cũng rất hữu tình, nó không bí hiểm, rợn ngợp mà rất hài hòa với
vẻ đẹp thanh tú của những hình ảnh thiên nhiên khác.
Đóng góp lớn
lao của Basho vào quan niệm sabi của văn học nói riêng, văn hóa Nhật Bản
nói chung chính là ở việc ông đề cao tính thẩm mĩ trong nó. Trước ông,
Teika (1162 – 1241) cũng chú trọng ý nghĩa thẩm mĩ, tước bỏ chất tôn
giáo trong khái niệm sabi mà cha ông (Fujiwara no Toshinari) khởi xướng.
Nhưng văn thơ Basho tìm đến cái đẹp thanh tú, tao nhã chứ không sặc sỡ,
diêm dúa như sáng tác của Teika, cũng không như cái đẹp hưởng lạc của
văn chương “phù thế” đương thời. Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp sabi
trong Oku no hoshomichi vì thế còn có nét thanh tú, thơ mộng,
thi vị… rất phù hợp với tâm hồn “duy mĩ” Nhật Bản cũng như hài hòa với
tinh thân thần Thiền tông đã thấm đẫm trên đất nước Phù Tang này. Basho
nói: “Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi cầm thú” [2; 31].
Vẻ đẹp thanh tú trước hết gợi lên từ hình ảnh trăng và mưa. Trăng và mưa trong Lối lên miền Oku hết sức phong nhã, trong sáng. “Ngay
từ khi châm đầu gối bằng ngải cứu nhằm sửa soạn cho cuộc hành trình,
tôi đã không ngớt miên man nghĩ đến vầng trăng ở Matsushi- ma”. Đọc những dòng đầu tiên của Oku no hoshomichi như
thế, bạn đọc không khỏi khấp khởi, háo hức cùng Basho mau đến
Matsushima ngắm trăng. Và đây là tất cả những gì chúng ta mong đợi: “Ánh trăng phản chiếu sáng trên biển: cảnh sắc Matsushima trông khác hẳn ban ngày”. Văn haibun chỉ miêu tả có vậy, cũng không trông chờ gì ở thơ haiku vì Basho “đặt lưng xuống” mà “ngậm miệng chẳng làm bài thơ nào”. Hattori Toho, môn đệ của Basho kể lại là: “Thầy
có nói là khi đứng trước một cảnh sắc quá ư tuyệt vời, người mình như
bị thu hút. Thầy không làm bài thơ nào ở Matsushima. Đây là một điều
quan trọng” [1,69].
Phong nhã có lẽ chính ở sự vô ngôn ấy, nó
là cái đẹp len thấm nhẹ nhàng vào cảm giác mà không dễ gì miêu tả thành
lời. Nó là vẻ đẹp không đường nét, màu sắc cụ thể nào, chỉ biết “ánh trăng phản chiếu trên biển”. Có
thể gọi “trăng” như thế là “hình ảnh trong gương”, nhìn thấy mà không
nắm bắt được. Sau này Kawabata cũng dùng hình ảnh “thủy nguyệt” ấy để
nói lên những tinh tế của tâm hồn.
Ánh sáng, mây, gió, sương… và
cả mưa đều mang vẻ đẹp vô hình hoặc không định hình như vậy. Những ấn
tượng bất ngờ này thường tạo niềm u hoài, nuối tiếc rất sabi. Hình ảnh
mưa chủ yếu trong Oku no hoshomichi là mưa rào tháng năm
(samidare) nên không có vẻ mơ màng như mưa mơ, mưa mận mùa xuân (mưa
baiu). Nhưng nó phong nhã ở những khía cạnh khác. Mặc dù mưa tháng năm
là hình ảnh gắn liền với “nước dột”, “rệp muỗi quấy rầy”, “đường sá quá ư lầy lội” hay “ủ nước cho dòng sông cuồn cuộn chảy”,
tức gắn liền với những hình ảnh không chút phong nhã kiểu thi vị cổ
điển. Nhưng thế nào Basho cũng chỉ ra được một khía cạnh rất hài hòa với
hình ảnh khác của nó. Vẻ hài hòa tự nhiên có lẽ mới chính là cốt lõi
của phong nhã. Ở Kasajima, nưa rào tháng năm trở nên “quá ư thích hợp” với những tên địa danh Minowa (mino: áo tơi) và Kasajima (kasa: dù che mưa). Mưa rào có thể “làm cho nhiều cái đổ nát để rồi trở thành một bãi cỏ hoang”, nhưng thay cho việc miêu tả sự hoang tàn, trống trải có thể có, Basho lại chiêm ngưỡng cái đẹp thuận hợp, an hòa của mưa:
Mưa tháng năm
không tàn phá đến
sảnh đường Dương Quang.
Sảnh
đường Hikarido (Dương Quang) là một di tích văn hóa truyền thống quý
giá ở nơi Oku hẻo lánh khi đó, chứng tích vàng son của những ông hoàng
thế kỉ XII. Sự hài hòa của mưa tháng năm với ý nguyện giữ gìn vẻ đẹp văn
hóa của con người đã làm nên một vẻ đẹp phong nhã đầy ý nghĩa. Hình ảnh
mưa có vẻ như vô duyên khi làm mất đi cảnh trăng rằm mà nhà thơ mong
đợi. Nhưng có thể chính nó đã giúp ta hiểu rằng đẹp hay phong nhã là ở
chính trong tâm hồn chứ không phải tìm trong cảnh vật, hoặc thể phong
nhã là chính sự tự nhiên của tạo vật chứ không như sự cố định hạn hẹp mà
con người hình dung trước đó.
Vẻ đẹp phong nhã trong Lối lên miền Oku còn
thể hiện trong hình ảnh hoa và các loài thảo mộc. Hoa lá cỏ cây… thường
mang đến vẻ thanh tao, thi vị, lại càng trở nên phong nhã dưới những
áng văn thơ đậm chất sabi của Basho.
Để nói về đóa hoa cây lật (hạt dẻ), Basho đã viết văn haibun rất tỉ mỉ về tên cây: “Chữ
“lật” gồm chữ “tây” và chữ “mộc”, gợi ý ở Tây phương tịnh độ. Người ta
bảo rằng Gyogi Bồ Tát suốt đời dụng gây cây lật và xây ngôi nhà cũng chỉ
bằng gỗ lật”. Ngay đến Saigyo cũng nói một câu đầy ẩn ý: “Nơi rừng sâu tôi lượm hạt dẻ”. Về hoa dẻ, Basho viết:
Nhân gian
không màng đến đóa hoa
cây dẻ bên hiên nhà.
Vẻ
đẹp của những bông hoa ấy không ở đường nét, màu sắc mà có khi chính ở
sự vô dụng, thoát khỏi ham muốn cầu lợi của người đời. Khi “nhân gian không màng đến” thì nhà thơ lại nghĩ về nó thật nhiều, phân tích tên cây đến ngẫm nghĩ về cựu tích của nó. Bài thơ đầu tiên về hoa trong Oku no hoshomichi đã
gợi ra vẻ phong nhã của bể Thiền: trong sáng và thanh cao. Hình ảnh hoa
không được tả nhưng được lí giải gián tiếp qua điển tích nên vẫn rất
sinh động.
Đôi khi Basho đặt hình ảnh những bông hoa giản dị, đời
thường cạnh những hình ảnh vốn được thừa nhận là tao nhã, thanh cao từ
trong truyền thống, để cho hai hình ảnh cân xứng với nhau và theo đó đưa
hoa lên một vẻ phong nhã bất ngờ. “Hoa nghệ tây” được sánh cùng hình
ảnh mĩ nhân trang điểm. “Hoa dạ hợp” sánh ngang nàng Tây thi mĩ miều:
Chà Kisagata
trong mưa Tây Thi ngủ
mơ màng những cánh hoa.
Ta
ngộ ra một điều rằng thiên nhiên thanh tú, phong nhã là “một vũ trụ
thuần khiết không còn sai biệt”. “Tất cả đều có cuộc sống, có Phật tính,
có sự bình đẳng trong ánh sáng và cát bụi” [2; 35].
Cây cỏ trong Oku no hoshomichi cũng mang vẻ đẹp không rực rỡ sắc màu, không hào nhoáng mà thanh nhã và cổ kính, như hình ảnh của “những
cây tùng có màu xanh mướt, óng ánh tuyệt vời. Cành cây bị uốn nắn liên
tục bởi gió khiến ta có cảm tưởng như những cây tùng này đã tự tạo nên
những nét cong cho chính mình”. Mỗi chương khác nhau Basho lại khắc
họa rõ nét hình ảnh thanh tú của nó bằng vẻ cổ kính của những đám rêu
bám chặt gốc tùng, ánh trăng huyền ảo xuyên qua kẽ lá, hình ảnh “những
khóm lau đã trổ bông” từng được nhắc nhiều trong thơ ca của các bậc tiền
nhân theo đuổi hai chữ “phong nhã” (fuga); hay hình ảnh đồng hoa mã túy
bạc trắng…
Trong văn chương, thiên nhiên thường được dựng lên như một cái phông nền cho nhà văn khắc họa hình ảnh con người nhưng trong Oku no hoshomchi thì
Basho không chỉ tạo không gian, thời gian nghệ thuật bằng cảnh vật, mà
còn coi chúng như một hình tượng chính, nếu không muốn nói là hình tượng
trung tâm, khá cân xứng với hình tượng con người miền Oku. Vì thế thiên
nhiên mang sức sống tự nhiên, sinh động của chính nó, nhiều hơn là mang
một ý nghĩa tượng trưng, ẩn dụ cho một hình ảnh nào khác. Nếu hiểu được
tinh thần Shinto yêu mến thiên nhiên đến sùng bái của người Nhật, hiểu
được nghệ thuật vườn đá, trông cây cảnh bonsai hay cắm hoa ikebana là tự
nhiên được thu nhỏ chứ không là nhân tạo… thì chúng ta sẽ thấy được sự
độc đáo rất Nhật Bản của hình ảnh thiên thiên trong Oku no hoshomichi.
Basho khắc họa chúng ở những nét cô quạnh và thanh tú, ẩn chứa đằng sau
là những xúc cảm xao xuyến, man mác, u hoài. Có lẽ đó cũng như một sự
phản ứng của ông đối với Edo hoa lệ đến xô bồ mà nhân thế đang quay
cuồng trong sự phát triển bát nháo của nó. Cũng là một thái độ phản
kháng nhưng Basho rất tế nhị, nhẹ nhàng bằng việc bày tỏ nguyện vọng,
ước mơ, niềm khao khát của mình vào một thực tại thanh tao mà ông tìm
thấy ở Oku. Có gì đó giống như tinh thần ẩn dật của lớp nhà văn ẩn sĩ từ
thời Heian xa xưa. Có gì đó vẫn rất dễ dàng đồng cảm với thời đại văn
học sinh thái của chúng ta bây giờ!!
ThS Bùi Thị Mai Anh
Viện Giáo dục và Đào tạo Quốc tế, Trường ĐHSP HN
–
Ghi
chú: Các câu haiku được sử dụng trong bài viết này do người viết tạm
dịch, nếu do người khác dịch thì ghi rõ tên dịch giả, các câu haibun sử
dụng bản dịch của Vĩnh Sính trong cuốn Lối lên miền Oku (Nxb Thế giới, H.1999).
Tài liệu tham khảo
1. Matsuo Basho, Vĩnh Sính dịch, giới thiệu và chú thích (1999), Lối lên miền Oku. NXB Thế giới, H.
2. Phan Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, NXB Văn học, T.P.HCM.
3. Phan Nhật Chiêu. Thơ ca Nhật Bản. Nxb Giáo dục. T.P. HCM. 1998.
4. Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB GD, H.
5. Harold G. Henderson, Lê Thiện Dũng dịch (2000), Hài cú nhập môn, NXB Trẻ, T.P. HCM.
6. V.V. Ootrinicốp. Phong Vũ dịch (1996), Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật, Số 5/1996, Tạp chí Văn học, tr.60.
7. Matsuo Basho, Donaid Keene translated (1996), The Narow Road to Oku. Kodansha imerational, Japan.
--
clbthohaikuviethcm.vn